Chào mừng đến với Blogger !!!

Ngày 30 tháng 05 năm 2012

PHONG TRÀO DUY TÂN CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẦU TK XX



MỤC LỤC


A. MỞ ĐẦU.............................................................................................................................. 3
B. NỘI DUNG........................................................................................................................... 7
Chương I: Quá trình hình thành tư tưởng để đi đến phong trào duy Tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX........................................ 7
1.1. Những chuyển biến về kinh tế chính trị, xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX....................................... .......................................................................................... 7
1.1.1. Kinh tế................................................................................................................. 7
1.1.2. Chính trị................................................................................................................     10
1.1.3. Xã hội................................................................................................................ 12
1.1.4. Văn hóa - giáo dục..............................................................................................     13
1.2. Sự tác động của các luồng tư tưởng ở bên ngoài dẫn đến việc hình thành tư tưởng canh tân ở Việt Nam.......................................................................................................................................... 14
1.2.1. Ảnh hưởng từ Trung Quốc.............................................................................. 14
1.2.1.1. Kinh tế......................................................................................................... 14
1.2.1.2. Chính trị ..................................................................................................... 15
1.2.1.3. Văn hóa-  giáo dục                                                                                             16
1.2.1.4. Quân sự  ..................................................................................................... 17
1.2.2. Ảnh hưởng từ Nhật Bản ................................................................................. 19
1.2.2.1. Kinh tế                                                                                                          19
1.2.2.2. Chính trị ..................................................................................................... 21
1.2.2.3. Văn hóa - giáo dục                                                                                             22
1.2.2.4. Quân sự  ..................................................................................................... 23
Chương II: Trào lưu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và cuộc vận động giải phóng dân tộc             24
2.1. Xu hướng đi đến trào lưu dân tộc  24
2.2. Cuộc vận động giai phóng dân tộc từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX    ... 31
 2.2.1. Lương Văn Can nhà tư tưởng tiêu biểu cho phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX                                31
2.2.1.1. Cuộc đời của Lương Văn Can                                                                  31
2.2.1.2. Con đường cách mạng của nhà yêu nước Lương Văn Can ................ 34
2.2.1.3. Phong trào đông kinh nghĩa thục...............................................................     43
2.2.1.4. Đánh giá về phong trào đông kinh nghĩa thục của Lương Văn Can.....     46
2.2.2. Phan Bội Châu nhà tư tưởng tiêu biểu cho phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX                    48
2.2.2.1. Cuộc đời của Phan Bội Châu.......................................................................     48
2.2.2.2. Những tư tưởng canh tân của Phan Bội Châu                                                52
2.2.2.3. Những đánh giá về tư tưởng canh tân của Phan Bội Châu.....................     54
2.2.3. Phan Châu Trinh nhà tư tưởng tiêu biểu cho phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX                56
2.2.3.1. Cuộc đời của Phan Châu Trinh .............................................................. 56
2.2.3.2. Cuộc vận động cải cách về văn hóa hay là đường lối “khai dân trí”58
2.2.3.3. Cuộc vận động cải cách về tử tưởng hay là vấn đề “chấn dân khí”.....     60
Chương III. Những nhận định và đánh giá về phong trào Duy Tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX                                               ........................................................................................ 64
C. KẾT LUẬN  ...................................................................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
  
A.     MỞ ĐẦU
1.      Lí do chọn đề tài
Lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX vốn tồn tại nhiều biến động phức tạp, đặc biệt từ sau khi triều đình Huế kí hai hiệp ước Hacmang (1883) và Patơnốt (1884) nhân dân ta chính thức chịu sự thống trị của chính quyền thực dân Pháp, trước tình hình đó đòi hỏi trong quá trình thực hiện chủ trương chính sách các đường lối, các phong trào yêu nước phải hết sức thận trọng.
Đứng trước sự bất ổn của tình hình xã hội lúc bấy giờ. Nhiều nhà yêu nước có tư tưởng canh tân đất nước ở các giai đoạn trước: Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ…với mục tiêu đưa đất nước thoát khỏi tình trạnh khủng hoảng về kinh tế và xã hội. Đặc biệt từ đầu thế kỉ XX cũng có một số phong trào hoạt động sôi nổi của các nhà yêu nước dần hình thành như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can,…mỗi người có tư tưởng canh tân riêng và cách làm khác nhau nhưng nhìn chung cùng một mục tiêu lớn là lòng yêu nước, muốn đưa đất nước vượt khỏi tình trạng khủng hoảng về đường lối, sự nghèo nàn về kinh tế xã hội.
Vậy biểu hiện của các phong trào đó ra sao? Những phong trào đó có tác động gì đến tình hình xã hội bấy giờ hay không? Và sau khi thực hiện những phong trào đó có khắc phục được tình trạng nghèo nàn lạc hậu hay không? Đó là những vấn đề được nhiều người quan tâm.
Thật vậy, vấn đề này cũng đã được nhiều nhà sử học quan tâm và cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan được thực hiện và đã thành công. Tuy nhiên để đánh giá đúng sự thật khách quan tình hình xã hội bấy giờ thì chưa ai dám khẳng định hoàn toàn, bởi đó chỉ là lịch sử của chủ thể hoá. Chính vì vậy việc nghiên cứu lịch sử không thể nào dừng ở việc nghiên cứu của bất cứ nhà sử học nào. Riêng bản thân tác giả cũng còn rất nhiều vấn đề liên quan chưa được giải đáp. Cũng bởi những lí do đó mà người viết bài nghiên cứu này quyết định chọn đề tài “Phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” để tiếp tục nghiên cứu, với mong muốn sẽ giải đáp được phần nào những thắc mắc đã nêu, đồng thời rút kinh nghiệm cho bản thân trong thực tiễn công cuộc đổi mới và đi lên Chủ nghĩa xã hội giai đoạn hiện nay.
2.      Lịch sử vấn đề
Để nghiên cứu vấn đề này thì chúng tôi đã kế thừa những phần mà các tác gia sử họ đã nghiên rồi, để từ đó có được những kinh nghiệm trong việc làm đề tài này.
1. Trong cuốn “Minh trị Duy Tân và Việt Nam” của Nguyễn Tiến Lực Nxb Giáo Dục Việt Nam. Cuốn sách này đề cặp đến việc cải cách Duy Tân ở Nhật Bản và cách nhìn nhận của các sĩ phu yêu nước Việt Nam về phong trào Duy Tân.
2. Hay “Phong trào Duy Tân ở Bắc Trung Nam” của Sơn Nam Nxb Trẻ. Thì đề cặp đến vấn đề các phong trào tiêu biểu ở Nam Kỳ, tuy thất bại nhưng đã thể hiện đươch tin thần yêu nước của nhân dân ta và thành quả đáng kể là việc xây dựng ngành sân khấu cải lương, do những chiến sĩ của phong trào Duy Tân góp công tiền phong.
3.  “Phong trào Duy Tân các khuôn mặt tiêu biểu” Nguyễn Quang Thắng Nxb Văn hóa thông tin. Đây là cuốn sách đề cặp đến những gương mặt tiêu biểu cho phong trào Duy Tân ở Việt Nam và những biểu hiện điển hình của những phong trào đó, về tư tưởng cải cách hay các phong trào cải cách mới.
4. “Trần Văn Giàu tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh quyển II” Nxb Khoa học xã hội Hà Nội năm 2003. Trong cuốn sách này thì chúng tôi chỉ sử dụng một phần để tìm hiểu về tư tưởng cải cách về văn hóa và giáo dục. Nó đã nói lên được những nét nổi bật về đường lối “khai dân trí” và “chấn dân khí” của Phan Châu Trinh.
5. “Phong trào Duy Tân” của Nguyễn Quyết Xuân Nxb Lá Bối, Sài Gòn năm 1995, Nxb Đà Nẵng in lại năm 1970. Đây  là cuốn sách đề cặp đến các sĩ phu yêu nước là Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, là trong những người tham gia vào đường lối canh tân ở Viêt Nam. Quá trình tiến hành đến phương pháp căn cứ địa hoạt động của phong trào Duy Tân và biểu hiện cụ thể của phong trào đó là những cuộc biểu tình vĩ đại 1908, khủng bố trắng….góp phần quan trọng cho phong trào Duy Tân ở Việt Nam.
3. “Đông Kinh Nghĩa Thục, Phong trào Duy Tân đầu tiên ở Việt Nam” Nguyễn Hiến Lê Nxb Lá Bối. Đề cặp đến tình hình nước ta ở đầu thế kỷ XX và quá trình thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can lãnh đạo. Đặc biệt là những chính sách tiến bộ trong giáo dục, mở mang kiến thức, chấn hưng lại nền kinh tế và phát huy các nền công nghiệp khai mỏ. Phong trào đạt nhiều thành tựu to lớn, nhưng bị thực dân Pháp đàn áp nên phong trào bị dặp tắt.
Ngoài ra còn một số bài viết, công trình đánh giá nhận định trên các sách, tạp chí, Wedsite về phong trào Duy Tân ở Việt Nam, một số bài học kinh nghiệm cho việc giải quyết đúng đắn các vấn đề dân tộc: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Xưa và Nay…
Tóm lại những công trình trên phần nào khái quát, về những cuộc cải cách của các Sĩ Phu yêu nước trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ở đề tài khoa học này, tôi muốn đi tìm hiểu cụ thể hơn từ quá trình hình thành tư tưởng để đi đến những biểu hiện của phong trào Duy tân. Là cơ sở cho việc nhìn nhận đánh giá đúng về vai trò của các sĩ phu đối với công cuộc cải cách ở nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: trong tất cả các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…  Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi cố gắng giải quyết những vấn đề đã đặt ra ở đề tài khoa học này.
3.      Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Từ việc nghiên cứu các tư tưởng canh tân, những tư tưởng chủ quan và khách quan và đưa ra kết luận vấn đề. Qua đó làm rõ cuộc vận động lớn về tân văn hoá và dân quyền, quan trọng là làm rỏ hơn những phong trào yêu nước thời đó, nhận thức đúng sự thật lịch sử, đồng thời rút kinh nghiệm trong công cuộc đổi mới, vận dụng tốt vào tình hình của mỗi thời kì lịch sử.
3.2. Nhiệm vụ
Nêu lên khái quát nội dung các tư tưởng canh tân đất nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX và xem xét những tư tưởng này có phù hợp với hoàn cảnh lịch sử hay không.
4.      Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX.
5.      Phương pháp nghiên cứu
Đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kết hợp một số phương pháp khác như:
Phương pháp lịch sử.
Phương pháp logic.
Phương pháp sưu tầm, nghiên cứu và chọn lọc tài liệu có liên quan đến đề tài.
6.      Giả thuyết khoa học
Nếu như công trình nghiên cứu thành công sẽ là cơ sở rất hữu ích cho các công trình nghiên cứu có liên quan tiếp theo, mặt khác giúp nâng cao hiểu biết và tăng cường sự hiểu biết cho bản thân.
7.      Đóng góp của đề tài
Làm rõ hơn tư tưởng canh tân cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX mà cụ thể là cuộc vận động tân văn hoá và dân quyền. Thông qua đó làm sáng tỏ tinh thần yêu nước của sĩ phu lúc bấy giờ.
8.      Cấu trúc đề tài
Ngoài phần dẫn luận, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục luận văn gồm 3 chương đó là:
Chương 1: Quá trình hình thành tư tưởng để đi đến phong trào Duy Tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Chương 2: Trào lưu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và cuộc vận động giải phóng dân tộc.
Chương 3: Những nhận định và đánh giá về phong trào Duy Tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

B.     NỘI DUNG
Chương I: Quá trình hình thành tư tưởng để đi đến phong trào Duy Tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
1.1. Những chuyển biến về kinh tế chính trị, xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Từ năm 1897, khi phong trào Cần vương vừa mới kết thúc, phong trào đấu tranh tự vệ của nhân dân địa phương vẫn còn tiếp tục, thực dân Pháp tiến hành tăng cường và củng cố bộ máy hệ thống chính trị, đồng thời tổ chức khai thác, bóc lột các nước Đông Dương thành thuộc địa khai thác bậc nhất của chúng. Dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất, nền kinh tế chính trị Việt Nam có những chuyển biến quan trọng.
1.1.1. Kinh tế
Trong chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, trong chương trình hành động gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa (22/3/1897), Đume nêu rõ:
Xây  dựng cho Đông Dương một thiết bị Kinh tế to lớn, một hệ thống đường sắt, đường bộ, sông đào, bến cảng, những cái cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương, đẩy mạnh nền sản xuất và thương mại bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và người lao động của người bản xứ, khuếch trương ảnh hưởng của nước  Pháp, mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng viển Đông, nhất là các nước lân cận [1,tr.128].
Tinh thần cơ bản của chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương là thuộc địa Đông Dương phải được đặc biệt giành riêng cho thị trường Pháp. Các nước thuộc địa chỉ được thu gọn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không có. Công nghiệp, nếu được khuyến khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc. Để thực hiện mục tiêu trên thực dân Pháp đã đầu tư vào Việt Nam từ năm 1896-1914 là 424 triệu Phơrăng dưới hình thức vốn nhà nước. Ngoài vốn nhà nước thì còn có vốn đầu tư của tư bản tư nhân cũng đã đầu tư vào Việt Nam.
Để thực hiện chương trình khai thác, Đume tiến hành thống nhất tài chính toàn Đông Dương. Thành lập ngân hàng Đông Dương và phát hành tiền giấy bạc, quản lí tiền tệ ở Đông Dương, chèn ép các ngân hàng Hoa Kiều và Ấn Kiều, cho các công ty và nhà buôn vay. Nông dân Việt Nam cũng được vay tiền với lãi xuất cắt cổ.
Mặt khác thực dân Pháp lập ra ngân sách chung cho 5 xứ. Nguồn thu của ngân sách này do nguồn lợi của các loại thuế. Mọi thứ thuế tồn tại từ thời phong kiến điều tăng vọt, nhiều thứ thuế mới được đặt ra. “Trên chiếc lưng cao su của người An Nam, nhà nước tha hồ kéo dài mức thuế co dãn” [1, tr.129].
Ngoài thuế ruộng thì còn có nhiều thứ thuế gián thu do thực dân Pháp đặt ra, đặc biệt là ba loại thuế mới: thuế muối, thuế rượu, và thuốc phiện. Số vốn mà Nhà nước Pháp cho ngân quỹ Đông Dương vay được tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng cụ thể như sau:
Đường bộ được mở rộng đến những khu vực hầm mỏ, đồn điền, bến cảng và các vùng biên giới quan trọng. Ngoài trục đường xuyên Đông Dương được mở rộng thì có nhiều đoạn rộng đến 6 mét, thực dân đã xây dựng hệ thống đường hàng tỉnh tới những vùng biên giới xa xôi và cao nguyên hoang vắng. Tổng số chiều dài của đường hang tỉnh là 20.000 km cùng với 14.000 km đường dây điện thoại.
Đường sắt thì được thực dân Pháp ưu tiên mở rộng để phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu và để đưa quân đội nhanh chống đến đàn áp những cuộc khởi nghĩa. Tổng số chiều dài là 2.099 km. Tất cả các tuyến đường sắt, trừ tuyến Hải Phòng- Vân Nam, đều do nhà nước thực dân khai thác thu lãi.
Đường thủy cũng được khai thông ở các sông lớn, như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Hậu Giang, Đồng Nai…Các cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn cũng được xây dựng. Riêng ở Nam Kì, đến năm 1914 có 1.754 km đường thủy.
Nét nổi bậc nhất của chính sách khai thác của thực dân Pháp chính là chính sách cướp đoạt ruộng đất một cách trắng trợn, được hợp pháp hóa bằng những điều ước, nghị định với sự câu kết của thực dân Pháp với triều đình phong kiến. Thực dân Pháp còn tiếp tay cho địa chủ cướp đoạt ruộng đất của nông dân. Chính sách cướp đoạt ruộng đất và khai thác nông nghiệp của thực dân Pháp đã đẩy nông nghiệp Việt Nam vào tình trạng hết sức tiêu điều: “Chế độ thực dân như vậy không mang thêm chút nào cho sự giàu có của xứ xở” [Dẫn lại: 1, tr.132].
Trong khi kiềm hãm nông nghiệp trong vòng lạc hậu, thực dân Pháp tiến hành đầu tư vào một số ngành kinh tế để khẳng định vị trí của chủ nghĩa tư bản Pháp ở Đông Dương. Trước hết là đầu tư những ngành khai thác mỏ: thiếc, kẽm, bạc, sắt, vàng, thủy ngân…đặc biêt là than. Trong lĩnh vực khai thác mỏ, mỏ than đặc biệt chú ý, tổng sản lượng khai thác năm 1903 là 285.919 tấn, đến năm 1913 là 500.000 tấn. Thực dân Pháp chú trọng xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp, vừa thỏa mãn nhu cầu thị trường Đông Dương và kiếm được nhiều lợi nhuận, vừa có khả năng cạnh tranh ở thị trường Viễn Đông. Năm 1903 có 82 xí nghiệp, đến năm 1906 tăng lên 200 xí nghiệp. Phương thức kinh doanh chủ yếu là tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa sức lao động thủ công kết hợp với cơ giới, kết hợp bóc lột của tư bản với phong kiến, nhờ đó mà lợi nhuận thu được không ngừng tăng lên. Một nền công nghiệp đã xuất hiện ở nước ta nhưng đó chỉ là một nền công nghiệp phiến diện, què quặt, không có công nghiệp nặng, thể hiện rõ tính chất thuộc địa.
Trong lĩnh vực thương nghiệp, Việt Nam là thị trường độc chiếm của tư bản Pháp. Hàng hóa Pháp nhập vào Việt Nam được hoàn toàn miễn thuế, còn hàng hóa các nước khác thì bị đánh thuế mạnh. Thực dân Pháp còn ra sức chèn ép thương nhân Việt Nam,  dung dưỡng cho thương nhân Hoa Kiều làm đại lí cung ứng hang xuất khẩu, buôn bán và tiêu thụ hàng hóa Pháp. Chính sách độc quyền thương mại của thực dân Pháp làm bần cùng hóa nhân dân lao động và bóp chết các ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam.
Toàn bộ chính sách đầu tư, khai thác bóc lột của thực dân Pháp ở Đông Dương là một chính sách hẹp hòi, ích kỉ và thiển cẩn nhằm trói buộc nền kinh tế nước ta phụ thuộc vào nền kinh tế của Pháp. Đây là chính sách cướp bóc của thực dân Pháp bằng phương pháp bóc lột tư bản chủ nghĩa kết hợp với hình thức bóc lột dã man thời trung cổ. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XX, chính sách kinh tế của thực dân Pháp đã tạo ra sự biến đổi trong đời sống kinh tế Việt Nam. Đó là sự xâm nhập của phương thức sản xuất tư bản dẫn tới sự tan rã dần dần nền kinh tế tự nhiên ở nông thôn, đồng thời kinh tế hàng hóa có điều kiện phát triển. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dần dần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta, nhưng đây là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thái thực dân được thể hiện bằng sự kết hợp giữa phương thức bóc lột tư bản với phương thức bóc lột phong kiến trên phạm vi cả nước.
1.1.2. Chính trị
Để phục vụ cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, Pôn Đume đã tiến hành xây dựng  bộ máy nhà nước thống nhất, chặt chẽ, đồng thời thực hiện thủ đoạn “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”.
Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp kí Sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương gồm các xứ Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì và Campuchia, đến ngày 19/4/1899, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương, trực thuộc Bộ Thuộc  địa. Đứng đầu Liên bang Đông Dương là viên Toàn quyền người Pháp, đại diện cho chính phủ Pháp trực tiếp cai trị Đông Dương về mọi mặt. Dưới Hội đồng tối cao Đông Dương, có các cơ quan Trung ương về quân sự, dân sự, pháp lí, thanh tra, cảnh sát tài chính, canh nông, thương mại, bưu điện, y tế….đặc trách các công việc giúp Toàn quyền điều hành bộ máy thống trị và khai thác bóc lột.
Việc củng cố chính quyền Liên bang gắn chắt với việc củng cố chính quyền các xứ. Thủ đoạn “chia để trị” là một trong những nguyên tắc chỉ đạo hành động của chúng. Nước Việt Nam chia làm ba xứ với ba chế độ khác nhau. Nam Kì là xứ thuộc địa gồm 20 tinh do thực dân trực tiếp cai trị về mọi mặt.
Trung Kì là xứ bảo hộ chia làm 14 tỉnh do một viên quan Khâm sứ Pháp đứng đầu, triều đình Huế vẫn được duy trì với tên gọi “Chính phủ Nam triều”. Nhưng mọi quyền hành đều ở Tòa Khâm sứ do viên Khâm sứ Pháp đứng đầu. Ngoài ra còn có Hội đồng bảo hộ gồm một hay hai đại diện của Phòng Thương mại hay Canh nông, hai đại diện của Viện Cơ mật.
Bắc Kì là xứ “nửa bảo hộ” do một viên Thống sứ người Pháp đứng đầu. Bên cạnh Phủ Thống sứ có Hội đồng bảo hộ và hai Phòng Thương mại và Canh nông ở hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng. Bắc Kì có 26 tỉnh, 35 đại lí, 4 đạo quan binh và hai thành phố.
Hệ thống chính quyền ở Trung Kì và Bắc Kì từ cấp tỉnh trở xuống về đại thể giống nhau. Đứng đầu mỗi tỉnh là một viên Công sứ người Pháp. Bên cạnh tòa Công sứ, hệ thống tổ chức quan lại cũ vẫn được duy trì. Tất cả các quan “Nam triều” này chỉ đóng vai trò thừa hành những quyết định của Tòa Công sứ Pháp. Mỗi tỉnh chia làm nhiều phủ, huyện bao gồm các tổng, xã, làng, đạo, châu đối với các tỉnh miền núi là các tổng, làng, bản.
Song song với việc tăng cường và củng cố bộ máy hành chính, thực dân Pháp còn tăng cường bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án, nhà tù nhằm nhanh chóng hoàn thành triệt để công cuộc bình định, để “phòng thủ Đông Dương”, “mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là các nước lân cận với Đông Dương” và phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột.
Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát to lớn là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với chế độ riêng cho từng xứ cùng hệ thống tòa án, nhà tù đầy đặc khắp Việt Nam. Từ huyện, phủ, châu trở lên điều có nhà tù và trại giam. Ngoài ra thực dân Pháp còn thực hiện thủ đoạn chia rẻ dân tộc và tôn giáo.
Bộ máy chính quyền của thực dân Pháp được thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp với giai cấp phong kiến phản động do thực dân Pháp chi phối nhằm thực hiện chính sách khai thác, bóc lột vô cùng tàn bạo của chúng.
1.1.3. Xã hội
Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất do thực dân Pháp tiến hành, xã hội Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX bước đầu có sự biến đổi. Các giai cấp cũ tiếp tục tồn tại và phân hóa, một số giai cấp và tầng lớp mới ra đời.
1.1.3.1. Giai cấp địa chủ
Giai cấp địa chủ không bị suy yếu với sự xâm nhập của tư bản nước ngoài, trái lại còn mạnh lên về số lượng, thế lực và kinh tế, chính trị, được thực dân Pháp dung dưỡng trở thành tay sai đắc lực cho chúng. Cho nên giai cấp địa chủ ra sức bóc lột nhân dân ta. Thái độ chính trị của giai cấp địa chủ cũng phân hóa. Bộ phận địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần yêu nước sẵn sang tham gia cách mạng.
1.1.3.2. Giai cấp nông dân
Bị phân hóa sâu sắc vì chính họ là đối tượng bị bóc lột. Nạn cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến, cùng sưu cao thuế nặng, tạp dịch cũng như thiên tai xảy ra liên miên dẫn đến nông dân bị mất mùa nạn đói đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa và phá sản. Hơn 90% dân số là mù chữ, bị phá sản và bần cùng, người nông dân phải bỏ làng bỏ xóm ra thành phố, đến các công trường, hầm mỏ, xí nghiệp, đồn điền để làm thuê. Chính vì vậy họ không ngừng tham gia các cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến. Đây cũng là cơ sở cho cuộc vận động giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản trong những năm đầu thế kỉ XX.
1.1.3.3. Tầng lớp tư sản
Tư sản số lượng còn ít, nguồn gốc xuất thân, thái độ chính trị khác nhau. Tư sản dân tộc Việt Nam ra đời rất sớm nhưng không có địa vị về kinh tế và chính trị nên bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa chèn ép. Với thực lực kinh tế chính trị yếu ớt, lại bị phụ thuộc vào Pháp cho nên tầng lớp tư sản Pháp chưa đủ điều kiện để trở thành một giai cấp. Tất cả các đặc điểm đó dẫn đến yếu tổ cải lương trong quá trình đấu tranh.
1.1.3.4. Tầng lớp tiểu tư sản
Thành phần của tầng lớp này khá phức tạp và cũng phát triển hơn trước bao gồm: tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên, học sinh, tri thức, …tầng lớp này bị chế độ phong kiến và thực dân Pháp chèn ép dẫn đến bị phá sản và bần cùng hóa, nên có tinh thần yêu nước sẵn sàng tham gia vào cách mạng. Tầng lớp tích cực nhất trong phong trào giải phóng dân tộc và sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài vào.
1.1.3.5. Giai cấp công nhân
Ra đời rất sớm phát triển cả số lượng và chất lượng, là lực lượng xã hội mới quan trọng. Đây là lớp công nhân đầu tiên làm việc trong hầm mỏ, đồn điền, xí nghiệp…họ tập trung chủ yếu ở những trung tâm công nghiệp quan trọng của thực dân Pháp. Đời sống công nhân hết sức gian khổ, nên họ ra sức đấu tranh. Ngay từ khi mới ra đời giai cấp công nhân Việt Nam sớm đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài. Chính vì vậy giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng: Có mối quan hệ gắn bó với giai cấp nông dân; Kế thừa truyền thống yêu nước cảu cha ông ta; Chịu hai tầng áp bức bóc lột là đế quốc và phong kiến; Mới ra đời đã tiếp thu những ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác Lênin.
1.1.4. Văn hóa- giáo dục
Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc về văn hóa là một trong những biện pháp cai trị của bọn thực dân. Mục đích của nền giáo dục thuộc địa là góp phần duy trì ách thống trị vĩnh viễn của thực dân Pháp. Vì vậy, tùy theo yêu cầu về chính trị và kinh tế của từng thời kì, thực dân Pháp đã đề ra những chủ trương cụ thể.
Để thực hiện mục đích trên, thực dân Pháp lợi dụng nền giáo dục Nho học với chế độ khoa cử lỗi thời. Thực dân Pháp còn mở các trường sư phạm Hà Nội, Nam Định, Huế, Gia Định, các trường chuyên nghiệp và xưởng học nghề, các trường kỹ nghệ thực hành, trường thợ may, trường cơ khí Á châu Sài Gòn, trường Mĩ thuật Gia Định, trường Y sĩ Hà Nội được thành lập năm 1901. Năm 1907 để tranh giành ảnh hưởng với Đông Kinh Nghĩa Thục thực dân Pháp mở trường đại học Đông Dương. Ngoài ra còn có một số viện khoa học: Viện vi trùng học Sài Gòn, Sở Địa Chất, Trường Viễn Đông Bác cổ, Nha Khí tượng, Viện Nghiên cứu nông nghiệp và kĩ nghệ.
Báo chí là một công cụ tuyên truyền đắc lực cho sự thống trị của thực dân Pháp. Việc xuất bản sách, báo, tranh ảnh, bản đồ, tem thư cũng được chú ý. Sách được xuất bản thành 4 ngôn ngữ: Hán, Nôm, Pháp, Quốc Ngữ. Hoạt động xuất bản sách đã đánh dấu một bước phát triển mới, chuyển từ xuất bản sách phần lớn là chữ Hán và chữ Nôm sang phần lớn chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp.
Tình hình sinh hoạt văn hóa có ít nhiều biến đổi và phát triển, chủ yếu ở các đô thị. Ở nông thôn văn hóa làng vẫn tồn tại trong chính sách “bần cùng hóa”, và “ngu dân hóa”. Những thói hư tật xấu của xã hội được thực dân Pháp dung dưỡng. Nạn cờ bạc không bị cấm đoán mà còn khuyến khích bằng việc cho phép mở các sòng bạc để thu thuế. Tệ uống rượu không bị hạn chế. Thực dân Pháp còn mở các cơ quan thu mua và các ti bán thuốc phiện để thu ngân sách cho Phủ Toàn quyền. Ở nông thôn, hủ thục ma chay, cưới xin, tệ hương ẩm, nạn thù hằn giữa các phe phái vẫn tồn tại và không kém phần trầm trọng. Thêm vào đó, nạn bói toán, mê tính dị đoan ngày càng nặng nề. Nhân dân bị thất học hơn 90%.
1.2. Sự tác động của các luồng tư tưởng ở bên ngoài dẫn đến việc hình thành tư tưởng canh tân ở Việt Nam
1.2.1. Ảnh hưởng từ Trung Quốc
Đó chính là cuộc cải cách của Khang Hữu Vi và cuộc vận động Duy Tân năm 1898 về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự.
1.2.1.1. Kinh tế
Tư tưởng coi thường công thương nghiệp vốn là tư tưởng cổ hủ của Nho giáo đã chi phối lâu dài trong lịch sử Trung Quốc. Quan niệm bảo thủ này đã nhìn con đường phát triển xã hội một cách thiển cận, chỉ coi trọng nông nghiệp, xem việc học chữ thánh hiền mới là con đường đáng được coi trọng, thậm chí coi khinh tất cả các nghề khác. Do đó trong toàn bộ chủ trương cải cách kinh tế- xã hội ở Trung Quốc, phái Duy Tân đã đề ra tư tưởng “Dĩ thương lập quốc” và “Thượng công” làm xương sống của chương trình cải cách kinh tế. Khang Hữu Vi đã trình lên nhà vua sáu biện pháp làm cho đất nước giàu mạnh đó là: xây dựng và quản lí đường sắt, chế tạo máy và đóng tàu, khai thác mỏ, đúc tiền bạc trắng và in tiền giấy, lập bưu chính. Tất cả những chủ trương này là nhằm làm cho những mầm mống kinh tế hàng hóa ở Trung Quốc có cơ sở, điều kiện để phát triển. Nhờ tiếp xúc với khoa học kĩ thuật phương Tây, phái Duy Tân đã hiểu rõ việc dùng trí tuệ hơn dùng sức lực, do đó đã mạnh dạn đề nghị nhà vua cho lập các trường đào tạo công nghệ, dạy nghề, khuyến khích các phát minh, cấp bằng công nghiệp, đồng thời mua sách báo và du nhập khoa học kĩ thuật của phương Tây. Có thể nói về khách quan sự xâm thực của chủ nghĩa thực dân đã tạo nên một lực đẩy đối với kinh tế xã hội của Trung Quốc hội nhập vào quỹ đạo mới. Dù rằng những chủ trương của họ chưa thật đầy đủ, song đó thực sự là những nhận thức hết sức mới mẻ và tích cực. Chủ trương cải cách nền kinh tế Trung Quốc với tư tưởng chủ đạo là đề cao công thương nghiệp chính là nhằm biến đổi nền kinh tế nông nghiệp truyền thống của Trung Quốc thành nền kinh tế hàng hóa phát triển trong quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.
1.2.1.2. Chính trị
Phái Duy Tân hiểu rằng một cuộc cải cách chính trị sẽ đảm bảo cho công cuộc Duy Tân toàn diện ở Trung Quốc giành được thắng lợi. Cuộc cải chế bắt đầu từ biến pháp quyền vua, xây dựng chế độ quân chủ lập hiến trên nguyên tắc tam quyền phân lập. Khang Hữu Vi đã khẳng định rằng:
Cải cách thành công hay không đều quan hệ đến vị trí quyền lực của nhà vua. Nếu như quyền uy của Hoàng Đế được khôi phục, cải cách theo trình tự lệnh thi hành, lệnh cấm đều có hiệu lực thì chỉ một hay hai năm là có thể tốt.
(Nguyễn Văn Hồng, 2001: 246)
Chủ trương cải chế bắt đầu từ việc cách chức những quan lại tham nhũng, bổ nhiệm những người thuộc phái Duy Tân vào bộ máy chính quyền, thay đổi cách tuyển lựa quan lại theo dòng dõi quyền quý bằng cách tôn trọng hiền tài, chế độ tập quán bằng chế độ tuyển cử. Mục đích cuối cùng là từ quân quyền chuyển sang dân quyền, từ độc tài sang dân chủ. Phái Duy Tân cũng cho rằng cơ sở để xây dựng chế độ chính trị mới ở Trung Quốc là dựa trên nguyên tắc “Hán Mãn bất phân, quân dân cộng trị”. Như vậy, Khang Hữu Vi và các nhà Duy Tân đã nhận thức được tầm quan trọng của việc cải cách bộ máy chính trị mà trước hết là giành lại quyền lực thực sự về cho nhà vua để tiến hành công cuộc cải cách có hiệu quả. Nhưng các nhà Duy Tân đã lực bất tòng tâm, con đường cải cách chính trị thực sự là một con đường vô cùng khó khăn, phái Duy Tân đã thất bại trong tình thế không cưỡng lại được.
1.2.1.3. Văn hóa- giáo dục
Trong chủ trương của phái Duy Tân, giáo dục được đặc biệt chú ý nhằm đào tạo ra một đội ngũ nhân tài, góp phần nâng cao dân trí bắt kịp với thời đại. Khang Hữu Vi đã từng nói: “Thái Tây mạnh, cái gốc không phải là vũ khí kĩ thuật mà là cách học của kẻ sĩ và cách tổ chức một chế độ xã hội mới”.  (Nguyễn Văn Hồng, 2001: 261)
Ông cũng từng cho rằng sở dĩ Nhật Bản thành công một phần là nhờ người Nhật biết học và biết thay đổi trị nước theo Tân Pháp, nhờ đó họ đã mạnh lên. Phái Duy Tân đã đề ra bốn biện pháp để cải cách giáo dục: Lập trường học ở khắp nơi, tổ chức học theo mô hình kiểu phương Tây; Thay đổi nội dung học tập, cải cách chế độ thi cử, bỏ lối thi Bát Cổ; Mở nhiều nhà in để in sách báo và dịch các loại sách để cho quần chúng có thể nắm được tri thức khoa học; Cử người đi du học ở nước ngoài.
Xem xét toàn bộ tấu cáo của Khang Hữu Vi về vấn đề giáo dục, ta thấy khá toàn diện. Chủ trương của phái Duy Tân bắt đầu từ việc thay đổi cách học để tiến đến chỗ cải cách chế độ do đó đã vấp phải sự chống cự quyết liệt của phái Bảo Thủ. Phái Bảo Thủ đề cao tính dân tộc đến mức mù quán cho rằng có thể học phương Tây bách nghệ, học kĩ thuật công nghiệp nhưng về nghĩa lí chính trị thì muôn vạn lần không nên học vì nếu dùng học Tây để thay đổi Trung Quốc thì cuối cùng sẽ biến Trung Quốc thành Di địch. Phái Duy Tân thông qua các tổ chức “Cường Học Hội”, “Nam Học hội”,…với các hình thức hoạt động rất phong phú như: diễn thuyết, trao đổi, thảo luận, bình văn, dịch, in sách, kết hợp với cả vận động cải cách chính trị dân chủ, đã tạo thành một học phong mới lan rộng khắp cả nước. không chỉ đổi mới việc học, phái Duy Tân còn chủ trương xóa bỏ những hủ tục, thay đổi cách ăn mặc quần áo, nếp sống sinh hoạt v v…
Tóm lại, những biện pháp đổi mới văn hóa giáo dục của phái Duy Tân đã tấn công mạnh mẽ vào lối học cũ, giáo điều, xa rời thực tế, mở ra con đường “học vị dụng” nhằm mở rộng tầm mắt của trí thức và quần chúng nhân dân, làm thay đổi hẳn nhận thức xã hội. Ý tưởng tạo nên một học phong cách tân của các nhà Duy Tân thực sự có ý nghĩa thời đại sâu sắc.
1.2.1.4. Quân sự
Cốt cán của phái Duy Tân, về căn bản chỉ là những thư sinh có kiến thức thi thư rất rộng, có tài năng học vấn, đầy nhiệt huyết đấu tranh, nhưng thường thiếu hùng tài đại lược, ít am hiểu về việc binh cơ, khó có thể đề ra chiến lược quân sự. Hơn nữa phái Duy Tân không có ai nắm một chức vụ nào về quân sự dù chức nhỏ nhất, để ít nhiều có thể đề ra một chương trình cải cách cụ thể về quân sự. Do đó biện pháp cải cách quân đội rút cuộc chỉ là những đề nghị đầy tâm huyết của phái Duy Tân về việc kiểm soát chặt chẽ các lực lượng vũ trang ở địa phương và xây dựng quân đội ở trung ương theo mô hình của phương Tây, đó là huấn luyện hải quân và lục quân theo hướng Cận Đại hóa làm cho quân đội Trung Quốc mạnh lên. Các nhà nho của phái Duy Tân không thể làm một cuộc cải cách quân sự kiểu các nhà cải cách ở Nhật Bản cùng thời điểm, nhưng họ đã nhận thức được sự yếu kém của quân đội và chủ trương cải tổ, chỉ riêng điều đó đã đưa họ vượt qua tầm nhận thức của các nhà nho Trung Quốc đương thời.
Có thể nói, những chủ trương mới trên đây của phái Duy Tân là một bước thử nghiệm dùng chế độ tư bản phương Tây và Nhật Bản để cải tạo chế độ phong kiến truyền thống Trung Quốc.
Những chủ trương của phái Duy Tân rất ôn hòa nhưng đã bị phái Thủ Cựu chống đối kịch liệt. Từ Hi Thái Hậu đứng đầu phái Thủ Cựu đã tuyên bố: “Thà mất nước chứ không biến pháp” (Vương Hiễu Thu, 2001: 44). Phái Thủ Cựu nắm trong tay toàn bộ binh lực, lại gồm toàn những quan lại cao cấp, do đó chúng hoàn toàn làm chủ tình hình. Những biện pháp cải cách đụng chạm đến quyền lợi thiết thân của quan lại lớn nhỏ cho nên chúng ra sức cấu kết với nhau hình thành một trận tuyến Thủ Cựu rộng khắp, dốc toàn lực để bóp chết phái Duy Tân. Do đó bao nhiêu chiếu dụ ban ra đều không được thực hiện, như Lương Khải Siêu đã viết: “Mấy tháng nay, chiếu dụ Tân Chính khá nhiều, chỉ dụ của vua đốc thúc các đại thần cũng lắm, nhưng các đại thần vẫn bỏ mặc”. (Vương Hiễu Thu, 2001: 46)
Cuộc đấu tranh giữa hai phái rất quyết liệt,  ngày 21 tháng 9, chiến dịch đàn áp phái Duy Tân bắt đầu. Khang Hữu Vi phải chạy trốn sang Hồng- Công. Lương Khải Siêu may mắn trốn vào sứ quán Nhật Bản nên thoát chết, Đàm Từ Đồng quyết ở lại sống chết với phong trào Duy Tân, cuối cùng đã bị chém cùng với năm nhà hoạt động Duy Tân khác. Không khí khủng bố lan tràn khắp nơi, chế độ chuyên chế lại được củng cố.
Duy Tân Mậu Tuất là một cuộc cải cách nhằm biến đổi Trung Quốc từ một nước phong kiến thành một nước tư bản do những nhà nho yêu nước tiến bộ thực hiện nhưng đã thất bại hoàn toàn. Thất bại của phong trào Duy Tân chứng tỏ Trung Quốc không thể đi con đường Minh Trị Duy Tân. Bởi lẽ, so với Nhật Bản, bối cảnh lịch sử Trung Quốc không có lợi cho cải cách. Phong trào Duy Tân thất bại chấm dứt những hoài bão Cách tân lớn lao của thế hệ những nhà nho yêu nước, đồng thời cũng cáo chung con đường cải cách để giải phóng Trung Quốc.
Mặc dù thất bại, phong trào Duy Tân vẫn là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử cận đại Trung Quốc về lĩnh vực chính trị, và nhất là về lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Phong trào Duy Tân chưa phế bỏ được trật tự chế độ phong kiến và vai trò thống trị của nền văn hóa phong kiến ở Trung Quốc, nhưng nó đã làm lung lay trật tự và nền tảng văn hóa đó. Có thể nói, phong trào Duy Tân cuối thế kỉ XIX là một cuộc giải phóng tư tưởng, góp phần mở đường cho những trào lưu văn hóa và tư tưởng chính trị tiến bộ hơn thâm nhập và phát triển trong xã hội Trung Quốc. Ngày nay các học giả Trung Quốc không chỉ phân tích những hạn chế, khiếm khuyết của phong trào Duy Tân, mà đồng thời đã đánh giá cao ý nghĩa lịch sử của phong trào đó:
Cống hiến chủ yếu của cuộc Duy Tân Mậu Tuất là làm lung lay và thay đổi cục bộ chế độ phong kiến truyền thống trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục; người ta thử nghiệm xây dựng một Trung Quốc cận đại, độc lập, phồn vinh và giàu mạnh.
(Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý, 2003: 224)
1.2.2. Ảnh hưởng từ Nhật Bản
Đó chính là cuộc Cải cách Minh Trị (1868- 1912). Thời kì trị vì của Minh Trị là thời đại diễn ra những cải cách có tầm mức sâu rộng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, quân sự vv…đưa Nhật Bản từ một nước phong kiến thành một quốc gia tư bản tiên tiến sánh vai với các Liệt cường phương Tây.
1.2.2.1. Kinh tế
Để gạt bỏ những trở lực của sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp, nhằm gia tăng tài chính cho chính phủ trong điều kiện nền kinh tế công thương nghiệp hãy còn thấp, chính phủ ban bố các sắc lệnh cải cách ruộng đất. Năm 1872, chính phủ tuyên bố cho tự do mua bán ruộng đất, đo lại ruộng đất và cấp giấy sở hữu đất đai cho người có ruộng thực tế. Với sắc lệnh này, một tầng lớp nông dân tư hữu đã ra đời, trong đó có cả một bộ phận địa chủ làm ăn theo lối mới, đây là tiền thân của giai cấp tư sản nông thôn xuất hiện ngày càng đông đảo. Cải cách về ruộng đất dẫn đến việc cải cách về chế độ thuế. Năm 1873, pháp lệnh về thuế được ban hành, theo đó nhà nước đánh thuế ruộng đất bằng tiền thống nhất trong cả nước. Cải cách ruộng đất đã góp phần tăng nguồn thu nhập cho quốc gia để giải quyết khó khăn về tài chính ban đầu. Chính sách cải cách ruộng đất là một trong những đòn bẩy tích lũy tư bản nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Chính phủ thực hiện chính sách “Thực sản hưng nghiệp” với quyết tâm xây dựng một nền đại công nghiệp làm nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế. Nhà nước bỏ tiền đầu tư những xí nghiệp làm nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế. Trước hết nhà nước đầu tư vào những xí nghiệp lớn sử dụng thiết bị và kĩ thuật tiên tiến của phương Tây để làm mẫu hoặc sau đó sẽ chuyển nhượng cho tư nhân với giá rất rẻ. Các tập đoàn Mitxưbisi, Mítxưi …chính là các tập đoàn được nhà nước chuyển nhượng.
Thứ hai, nhà nước đã phát hành công trái hoặc lấy danh nghĩa nhà nước lập “Quỹ tài trợ công ty” để hỗ trợ vốn khuyến khích tư nhân kinh doanh, tính ra từ 1875 đến 1885 quỹ này đã hỗ trợ đến 1.470 000 yên.
(Lưu Tộ Xương, 2002: 86)
Thứ ba, chính phủ còn chú trọng nhập khẩu những thiết bị và kĩ thuật tiên tiến nhất của kĩ nghệ phương Tây đưa vào nhằm hiện đại hóa nền kinh tế Nhật Bản. Tất nhiên Chính Phủ cũng nhận thức rằng không chỉ mua máy móc về mà còn phải biết sử dụng nó. Do đó một mặt Chính Phủ mời các chuyên gia kĩ thuật ngoại quốc với mức lương ưu đãi đến Nhật Bản làm việc. Mặt khác chính Phủ tăng cường gởi học sinh đi du học ở nước ngoài để nhanh chóng tạo ra một nguồn lực chất xám tại chỗ đáp ứng yêu cầu của cuộc cải cách. Trong Thương Nghiệp, trong hai năm 1868 và 1869, Chính phủ ra lệnh xóa bỏ tất cả các trạm thuế ở biên giới do các phiên đặt ra trước đây, đồng thời tuyên bố tự do mậu dịch. Những chính sách này đã góp phần xóa bỏ những rào cản mở đường cho nền thương nghiệp (cả nội thương và ngoại thương) phát triển mạnh mẽ trong quỹ đạo kinh tế hàng hóa.
Bên cạnh những cải cách trên, Chính phủ cũng tiến hành một số cải tổ trong lĩnh vực tài chính như: mở xưởng đúc tiền, quy định đồng Yên là đồng tiền dùng thống nhất trong cả nước, thiết lập một hệ thống ngân hàng theo hình mẫu của Mỹ.
Đến đầu thế kỉ XX, những cải cách trên lĩnh vực kinh tế còn được đẩy mạnh hơn nữa, đặc biệt ngành công nghiệp, do Nhật Bản kiếm được một nguồn chiến phí dồi dào và một thị trường lớn qua hai cuộc chiến tranh (Chiến tranh Nhật- Trung 1894- 1895 và cuộc Chiến tranh Nhật- Nga năm 1904- 1905). Hơn nữa, nhà nước lại có những chính sách thích hợp thu hút đầu tư liên doanh của các nước có nền kinh tế phát triển mạnh như Mỹ, Đức. Với những chính đó, Nhật Bản đã trở thành cường quốc tư bản ở khu vực và đang chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
1.2.2.2. Chính trị
Ngày 27/4/1868, Thiên Hoàng long trọng tuyên bố “Chính thể thư” nhằm xác định mô hình chính trị của Nhật Bản trên cơ sở học tập các mô hình chính trị của các nước Châu Âu. Theo đó về hình thức nhà nước Nhật Bản là nhà nước Quân chủ Lập hiến, nhưng thực tế mọi quyền hành đều nằm trong tay Thiên Hoàng.
Quốc Hội có hai viện, Thượng Viện gồm những người do Thiên Hoàng chỉ định thuộc dòng dõi Hoàng Triều, những người có công lao, đóng thuế cao, nhiệm kì suốt đời. Hạ Viện do bầu cử nhưng điều kiện cử tri rất khắt khe, chỉ áp dụng đối với nam giới từ 21 tuổi trở lên và có tài sản. Ngoài ra Thiên Hoàng còn cử ra một cơ quan gọi là Cơ Mật Viện gồm những chính trị gia có công lao xuất thân từ các phiên Tây Nam, được tham gia ý kiến với Thiên Hoàng trong các vấn đề trọng yếu của quốc gia.
Hiến Pháp Minh Trị được xây dựng trên cơ sở tham khảo các bản hiến pháp của Đức và Mỹ được chính thức công bố vào ngày 11/2/1889 đã xác nhận về mặt pháp lý thể chế chính trị Nhật Bản và có giá trị cho đến năm 1945. Thực chất đó là một nhà nước quân chủ chuyên chế khoác áo đại nghị, thích hợp với điều kiện lịch sử của Nhật bản lúc bấy giờ. Việc cải tạo Nhật Bản phong kiến trở thành một nước tư bản là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, do vậy cần phải có một chính quyền đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ. Không bao lâu sau cuộc cách mạng năm 1868, chính quyền Minh Trị đã từng bước xóa bỏ chế độ Phiên phiệt, cả nước bây giờ có 72 huyện và 3 phủ. Nước Nhật đã trở thành một quốc gia Trung ương Tập quyền với đúng nghĩa của nó, bắt đầu đặt nền tảng cho sự hình thành thị trường thống nhất trong cả nước, cải cách về chính trị vì thế là cải cách có ý nghĩa tiên quyết.
1.2.2.3. Văn hóa- giáo dục
Những biến đổi về kinh tế đã kéo theo những biến đổi sâu sắc về cơ cấu giai cấp và xã hội. Do đó nhà nước phải có một số chính sách để điều chỉnh. Chính Phủ ban bố chính sách xóa bỏ chế độ đẳng cấp phong kiến, bây giờ chỉ còn những giai tầng: Hoa tộc, Sĩ Tộc, Bình Dân. Giữa những giai tầng này được phép gả cưới lẫn nhau. Đẳng cấp võ sĩ và những đặc quyền của đẳng cấp này cũng bị xóa bỏ, họ có thể được cấp một khoản lương để về quê làm ăn hoặc bỏ vào kinh doanh, những người trẻ tuổi có thể gia nhập quân đội, tuy nhiên tư tưởng Võ sĩ đạo thì vẫn được chính quyền mới phát huy trong quân đội do đó nó vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lâu dài trong xã hội Nhật Bản.
Ngay từ đầu, Chính phủ Minh Trị đã nhận thức rất rõ rằng muốn học tập và tiếp thu một cách thực sự nền khoa học của phương Tây, thì cần phải bắt đầu từ giáo dục. Do đó giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu là chìa khóa để Cận đại hóa Nhật Bản. Sau khi đã cử những đại biểu sang các nước Âu Mỹ để tham quan mô hình giáo dục của các nước, năm 1872 Chính phủ ban bố sắc lệnh thành lập Bộ Giáo Dục và ban hành Học chế. Học chế bao gồm 213 điều xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương châm, quy mô của nền Giáo Dục mới là phải đảm bảo “Không có người nào thất học, không nhà nào không có người học, không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, giai tầng xã hội vv…” (Lưu Tộ Xương, 2002: 90). Để đảm bảo cho việc thực thi mục tiêu Giáo Dục, Chính Phủ còn ban hành lệnh cưỡng bức giáo dục, theo đó trẻ em bất luận trai hay gái đến tuổi đi học phải đến trường, học ít nhất 3 năm. Phương châm của nền Giáo Dục mới cũng được xác định là “Học đi đôi với hành, nền học thuật không tách rời với đời sống, học dựa trên tinh thần khoa học độc lập có phê phán”, đặc biệt là trên nguyên tắc “Khoa học phương Tây, đạo đức Nhật Bản”, chính nhờ việc xác định đúng đắn phương châm giáo dục, cho nên Nhật Bản du nhập, học hỏi khoa học kĩ thuật phương Tây để cận đại hóa rất mạnh mẽ, nhưng không hề bị phương Tây hóa. Mô phỏng theo những mô hình giáo dục tiên tiến hiện đại của các nước Âu Mỹ (chủ yếu là của Pháp). Hệ thống Giáo dục của Nhật Bản trên cơ sở tham khảo mô hình của nền Giáo dục Pháp được chia làm 8 khu Đại học trong cả nước, mỗi khu có 32 khu Trung học, mỗi khu trung học có 10 khu Tiểu học, ngoài ra còn có hệ thống Trường Chùa hoặc các Trường tư. Để nhanh chóng cận đại hóa nền Giáo dục, một mặt Chính phủ cho mời các chuyên gia giáo dục ngoại quốc sang dạy. Mặt khác, Chính phủ tăng cường gởi học sinh đi du học ở nước ngoài không phân biệt thành phần xuất thân. Mở các trường ngoại ngữ cũng là một chính sách tạo điều kiện cho người Nhật Bản có điều kiện chủ động tiếp thu văn minh phương Tây rất có hiệu quả.
Những thành quả của giáo dục là hết sức to lớn, không chỉ đem tri thức văn hóa phổ cập đến toàn dân nhằm nâng cao dân trí, mà còn tạo ra một đội ngũ lao động có chất xám phục vụ cho công cuộc cải cách trong thời kì cận đại do đó còn có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài đến sự phát triển của Nhật Bản ngày nay.
1.2.2.4. Quân sự
Nước giàu binh mạnh là mục tiêu cuối cùng của quá trình cải cách, muốn vậy thì trước hết phải tăng cường sức mạnh quân đội và khả năng quốc phòng của đất nước. Năm 1870 Chính phủ ban hành sắc lệnh Cải tổ quân đội theo hình mẫu của các nước phương Tây gồm có hai lực lượng Lục quân và Hải quân. Lục quân theo mô hình Phổ, Hải quân theo mô hình Anh. Năm 1873 chính phủ áp dụng Luật Trưng binh, theo đó thanh niên đến 20 tuổi bất kể Bình dân hay Võ sĩ đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự ba năm tại ngũ và bốn năm dự bị. Thực hiện chế độ Trưng binh có nghĩa là xóa bỏ quân đội võ sĩ theo kiểu phong kiến cũ, để thành lập quân đội của giai cấp tư sản, tước đoạt quyền đặc quyền lũng đoạn quân sự của các võ sĩ và trưng binh từ trong dân chúng. Tuy nhiên để giảm thiểu sự phản kháng từ phía các võ sĩ, Chính Phủ lại sử dụng những người thuộc tầng lớp các võ sĩ đảm nhiệm các chức vụ sĩ quan cao cấp trong quân đội. Năm 1878, chính phủ ban bố “Điều lệnh quân nhân”, trên cơ sở kế thừa luật Busiđô, theo đó binh lính phải trung thành tuyệt đối với Thiên Hoàng, dũng cảm không sợ chết, khi cần thiết phải dám tuốt gươm “mổ bụng”, binh lính phải xem sĩ quan như cha của mình. Có thể nói, Chế độ quân sự và cảnh sát kiểu mới của Nhật Bản là sự hổn hợp giữa tàn dư phong kiến và tư sản. Quân đội mới đã nhanh chóng trưởng thành và chẳng bao lâu đã giành được thắng lợi qua hai cuộc thử sức trong Chiến Tranh Nhật- Trung (1894- 1895) và trong Chiến Tranh Nhật- Nga (1904- 1905).
Ngoài những chính sách cải cách cơ bản trên, Thiên Hoàng Minh Trị còn tiến hành những cải cách về văn hóa, tư tưởng vv…tạo nên những biến chuyển sâu rộng trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Nhật Bản.
Tóm lại, Minh Trị Duy Tân là một cuộc cách mạng bởi vì nó đã biến đổi Nhật Bản từ một nước phong kiến có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nước tư bản có nền công nghiệp hiện đại, có lực lượng quân sự hùng mạnh, văn hóa giáo dục tiên tiến vv… nhờ đó Nhật Bản đã rút ngắn được khoảng cách phát triển với các quốc gia Âu- Mỹ trong một thời gian kỉ lục.
Chương II: Trào lưu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và cuộc vận động giải phóng dân tộc.
2.1. Xu hướng đi đến trào lưu dân tộc
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử Việt Nam có những biến đổi hết sức to lớn. Thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Chế độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, một số nhà tư tưởng tiêu biểu, từ Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,… đã thực hiện một bước chuyển tư tưởng chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn.  Từ sự phê phán hệ tư tưởng phong kiến, các ông đã đề xuất tư tưởng canh tân vào cuối thế kỷ XIX và sau đó, khởi xướng tư tưởng dân chủ tư sản vào đầu thế kỷ XX, tạo nên ảnh hưởng lớn đối với xã hội Việt Nam.
Bằng việc phê phán hệ tư tưởng phong kiến, các nhà tư tưởng đã đề xuất tư tưởng canh tân, chuẩn bị từ bỏ hệ tư tưởng cũ và đi tìm con đường mới cứu nước, cứu dân. Vào cuối thế kỷ XIX, nhận thấy Nho giáo đã đi vào con đường suy tàn, bất lực trước yêu cầu của lịch sử, nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đã đề xuất tư tưởng canh tân, đổi mới nhằm chấn hưng đất nước, “Họ chính là những người đã trồng cái mầm khai hóa trước tiên”. Trong trào lưu tư tưởng canh tân, Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), Nguyễn Trường Tộ (1830- 1871) là những nhà tư tưởng tiêu biểu nhất. Nguyễn Trường Tộ là người viết rất nhiều bản điều trần gửi vua, quan nhà Nguyễn kêu gọi đổi mới toàn diện đất nước. Theo ông, phải có sự canh tân đất nước, bởi
Thời đại nào có chế độ ấy. Con người sinh ra thời đại nào cũng chỉ đủ làm công việc của thời đại ấy mà thôi. Vậy thì người sinh vào thời xưa làm xong công việc của thời xưa. Rồi dần dần thời thế đổi dời, làm sao có thể mãi mãi ôm giữ phép xưa mãi được.
Về tư tưởng, Nguyễn Trường Tộ là một nhà cải cách, ông coi ngôi vua là quý, chức quan là trọng, không muốn thay đổi chế độ quân chủ mà muốn có một người cầm quyền đủ khả năng dẫn dắt muôn dân tiến hành canh tân đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh việc đề cao chế độ quân chủ, Nguyễn Trường Tộ cũng nhận thấy vai trò của pháp luật và cho rằng, vua cũng nên tự hạ mình để ghép vào vòng pháp luật. Ông viết:
Bề trên lo giữ pháp độ, lo việc nước thì chỉ dùng người hiền, đã theo công lý giữ pháp luật thì trên sẽ hợp điển chế không ai dị nghị, sự nghiệp không suy đốn.
Như vậy, trong quan điểm của Nguyễn Trường Tộ, những yếu tố của tư tưởng dân chủ đã xuất hiện, đan xen tồn tại với quan điểm Nho giáo, phản ánh sự dao động tư tưởng khi hệ tư tưởng cũ lung lay, hệ tư tưởng mới chưa được xác lập. Với tư cách một nhà hoạt động chính trị, cũng như Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ đã đề xuất tư tưởng canh tân đất nước. Trước thực trạng đất nước suy vi, ông và nhiều nhà tư tưởng canh tân khác cho rằng, cần phải bỏ lối học tầm chương trích cú của Nho học, không thể chỉ dùng văn chương lý lẽ mà phải tiếp thu khoa học- kỹ thuật của phương Tây để thúc đẩy sản xuất, làm cho dân giàu, nước mạnh. Ông viết: “Làm cho dân giàu nước mạnh đâu phải là một việc chẳng cần lo toan nhiều” “Làm ra của cải, cái đạo lý lớn ấy là việc không thể coi nhẹ được”. Theo ông, muốn tự cường đánh Pháp phải nhanh chóng thay đổi cách nghĩ, từ chỗ xem đạo đức, lễ nghĩa là cái duy nhất, tối cao, bất biến đến phải thấy sản xuất của cải vật chất cũng là đạo lý lớn. Vậy! Ông kịch liệt phản đối việc dùng lời lẽ, đạo lý nhà Nho để xin giặc rủ lòng thương của phái cầu hòa, bởi nếu “chỉ dựa vào đối đáp, ai là người có thể làm nguội lạnh được tim gan giặc”. Bên cạnh việc phát triển kinh tế, Đặng Huy Trứ còn cho rằng, phải xây dựng nền quân sự vững mạnh, bởi kinh tế và quân sự có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong vấn đề giữ vững độc lập dân tộc. Ông viết:
Cấy cày và canh cửi là gốc của cơm áo. Nhưng nếu không hiểu việc binh để giữ lấy thì dù có thừa thóc trong kho, thừa vải trên khung cửi cũng bị kẻ địch lấy đi.
Trong tư tưởng Đặng Huy Trứ, quan niệm về dân là một nét mới khá nổi bật trong tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Ông coi “dân là gốc của nước, là chủ của thần”; “Khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc”. Những quan niệm đó đánh dấu sự đổi mới trong suy tư của dân tộc ta cuối thế kỷ XIX. Có thể nói, xu hướng cải cách xã hội là xu thế tất yếu đặt ra cho dân tộc Việt Nam trong giai đoạn này. Các nhà tư tưởng, như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đã nắm bắt được xu thế đó và bước đầu tạo ra một bước chuyển trong tư tưởng chính trị, từ tư tưởng quân chủ sang tư tưởng dân chủ, từ vương quyền sang dân quyền. Nhưng do hạn chế bởi điều kiện lịch sử, lập trường và tầm nhìn, cũng như ảnh hưởng khá sâu nặng của ý thức hệ phong kiến nên tư tưởng cải biến xã hội của các ông chỉ mang tính chất cách tân, trong khuôn khổ trật tự của xã hội cũ. 
Tiếp thu tư tưởng của các nhà canh tân cuối thế kỷ XIX, một số nhà tư tưởng đầu thế kỷ XX, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh,… tiếp tục phát triển tư tưởng đó lên trình độ mới, cao hơn về chất. Các ông đã từ bỏ dần hệ tư tưởng phong kiến, mạnh dạn đi tìm hệ tư tưởng mới cho dân tộc. Theo Phan Bội Châu, hệ tư tưởng Nho giáo đã hết vai trò lịch sử và chỉ làm cho dân tộc ta mất dần sức sống. Ông viết:
… nước Việt Nam mơ màng đôi mắt ngủ, uể oải một thân bệnh, tôn quân quyền, ức dân quyền, trọng hư văn, khinh võ sĩ, trộm cướp rình mò ở sân, mà vợ con say hát trong nhà, chủ nhân nằm dài trên giường luôn luôn ngáp mỏi mệt. Than ôi! Nguy ngập lắm thay!
Còn nền Nho học thì không thiết thực, tạo nên tầng lớp văn sĩ chẳng có mấy tác dụng đối với xã hội:
Các triều đình chuyên chế đã dùng khoa cử làm cái bẫy ràng buộc hào kiệt, tai mắt xóm làng cũng chỉ chuyên chú đến trường thi, làm cho người ta sinh ra từ tám tuổi trở lên đã vùi đầu, mờ mắt vì cái ngục tù bát cổ thi phú. Tiếng nói là văn sĩ, chứ thực ra chỉ là một vật chết không biết cái gì, cũng không làm được trò gì.
Phan Châu Trinh cũng cho rằng, do chế độ phong kiến đã thực sự thối nát, mục ruỗng, nhu nhược, nên đã để cho quyền lực chính trị rơi vào thực dân Pháp. Bộ máy của chế độ phong kiến là bù nhìn, như quân trên bàn cờ tướng: “Một ông tướng lác đứng trong cung, Sĩ tượng khoanh tay chẳng vẫy vùng”. Tầng lớp Nho sĩ vẫn chìm đắm trong hư văn, chưa kịp chuyển biến theo thời thế:
Việc đời nhìn lại thấy chẳng còn gì, sông núi không còn nước mắt để khóc các bậc anh hùng. Muôn nhà làm tôi tớ dưới ách cường quyền, nhiều người đang ngủ mê trong giấc mộng văn chương bát cổ.
Là trí thức Tây học, Nguyễn An Ninh cũng coi sai lầm lớn nhất là quá đề cao tư tưởng Nho giáo, dẫn đến sự cản trở quá trình phát triển của lịch sử. Ông nói: “… suy tôn học thuyết của Khổng Tử lên tới giá trị cao nhất về tinh thần, thì lại là một bước khác, khó cho ta dấn tới được”. Không chỉ có vậy, việc nhào nặn tư tưởng Khổng Tử theo quan điểm của các nhà Nho phong kiến cũng rất tai hại. Nhiều nhà tư tưởng tiến bộ khác, như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can,… cũng đã kịch liệt phê phán Nho giáo và chế độ phong kiến, thể hiện trong tư tưởng và sự bất hợp tác với chế độ phong kiến. 
Từ việc phê phán chế độ phong kiến, các nhà tư tưởng đã tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, học tập kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Trung Quốc, Nhật Bản, bắt đầu xây dựng những phạm trù dân chủ tư sản ở Việt Nam và phát động phong trào Duy Tân.
Ở phương Tây, tư tưởng dân chủ được hình thành trên cơ sở kinh tế- xã hội của nó, nên mang tính thuần thục, điển hình, phản ánh nguyện vọng, khát khao làm chủ xã hội của con người. Mục đích của tư tưởng dân chủ tư sản ở phương Tây là vì lợi ích giai cấp. Ở Việt Nam, các nhà tư tưởng lựa chọn dân chủ tư sản là vì lợi ích của dân tộc: đi tìm con đường cứu nước, giành độc lập tự do. Những người hấp thụ và truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản chủ yếu là tầng lớp sĩ phu được tư sản hóa trong hoàn cảnh giai cấp tư sản Việt Nam ra đời muộn và rất nhỏ bé. Cho nên, tư tưởng dân chủ tư sản ở nước ta có tính đặc thù: không thuần thục, điển hình như ở phương Tây; các phạm trù dân chủ tư sản vẫn chịu ảnh hưởng của Nho giáo và mang sắc thái văn hóa Việt Nam. Mặc dù vậy, tư tưởng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã được các nhà tư tưởng phác họa những nội dung cơ bản, phản ánh sự vận động và phát triển tất yếu của lịch sử tư tưởng.
Trước hết, về mục đích cách mạng, các nhà tư tưởng đều thống nhất mục đích là cứu nước, cứu dân, giành độc lập dân tộc. Phan Bội Châu viết:
Phan Bội Châu lấy việc cứu quốc làm chủ nghĩa, cho nên muốn cho nước ta độc lập. Lại lấy việc cứu dân làm chủ nghĩa, cho nên không muốn ngó thấy dân ta phải lầm than.
Đối với ông, phải xóa bỏ chính thể quân chủ, vì đó là một chính thể rất xấu xa và phải đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước Cộng hòa dân chủ. Còn Phan Châu Trinh - người khởi xướng tư tưởng dân chủ tư sản ở Việt Nam thì xác định rõ chủ đích của mình là đánh đổ chế độ phong kiến và đưa dân tộc đi theo con đường dân chủ tư sản. Cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, vấn đề giành độc lập dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của dân tộc ta. Vì vậy, có thể nói, tuy bằng nhiều con đường cứu nước khác nhau, song các nhà tư tưởng đều hướng đến độc lập dân tộc. Tư tưởng chính trị như vậy về cơ bản là đúng.
Thứ hai, về phương pháp cách mạng, các nhà tư tưởng đề ra hai phương pháp: cách mạng bạo động và đấu tranh ôn hòa. Phan Bội Châu cho rằng, thực dân Pháp là kẻ thù không đội trời chung với dân tộc ta; chúng không cho dân tộc ta phát triển kinh tế, mở mang văn hóa, giáo dục, đàn áp dã man mọi sự phản kháng, kể cả phản kháng hòa bình nhất. Cho nên không thể sử dụng con đường hòa bình để giành độc lập dân tộc, mà chỉ có sự lựa chọn duy nhất là phương pháp bạo động. Ông viết:
Vẫn biết bạo động với tự sát đều là việc làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết lo xa, nhưng nếu sự thể buộc tự sát, thà rằng xoay ra bạo động mà chết còn hơn. Vì cứ bạo động may ra còn trông được có chỗ thành công trong muôn một. Huống gì tôi đã suy đi tính lại, lúc nầy bỏ sự bạo động ra không còn có việc gì đáng làm hơn nữa.
Ông coi cách mạng bạo lực là một vấn đề cơ bản. Có thể nói, Phan Bội Châu là người đầu tiên xây dựng một hệ thống lý luận sơ khai về bạo lực cách mạng.
Nguyễn An Ninh, mặc dù theo phái đấu tranh ôn hòa, nhưng cũng nhận thấy vai trò của cách mạng bạo động. Ông viết: “Một dân tộc không biết cầm súng là một dân tộc không thể lánh nổi ách nô lệ”. Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,… là những người theo phái ôn hòa. Theo Phan Châu Trinh, bạo động là chết, bởi nhân dân “không có chỗ nương thân, không có khí giới mà dùng, không có tiền của mà tiêu,… quyết không thể sống nổi trong cái thế giới này, lại còn chống cự được với ai nữa”. Phan Châu Trinh chủ trương sử dụng phương pháp đấu tranh hòa bình đòi dân sinh, dân chủ một cách công khai với mục đích trông dân có trí, dân có đường sống.
Thứ ba, vấn đề vị trí và vai trò của nhân dân cũng đã được các nhà tư tưởng quan tâm. Cuối thế kỷ XIX, trong tư tưởng canh tân, Đặng Huy Trứ coi dân là gốc của nước, là chủ của thần; khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc. Tư tưởng này là một trong những cơ sở, tiền đề giúp Phan Bội Châu phát triển quan điểm dân là chủ nước, nước là của dân. Ông cho rằng, vua phải lấy dân làm trời, dân chính là trời của kẻ đứng đầu cai trị nước; rằng, một nước có ba điều quan trọng là nhân dân, đất đai, chủ quyền, trong đó nhân dân đứng thứ nhất. Tư tưởng này chống lại tư tưởng tôn quân quyền, đối lập hoàn toàn với quan điểm Nho giáo đương thời. Nói về vai trò của nhân dân, Phan Bội Châu nhấn mạnh: “dân ta là chủ nước non”; “nước ta hẳn là gia tài tổ nghiệp của dân ta rồi, bỏ mất nó là do dân ta, thì thu phục lại nó tất cũng phải do dân ta làm” và “nước được cường thịnh là nhờ có nhân dân”. Có thể nói, quan niệm “dân vi bản- dân là gốc” đã được Phan Bội Châu nâng lên một trình độ cao hơn- dân không chỉ là gốc, mà còn là chủ nước, là khí mạnh dân tộc, là chủ thể cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc. Tương tự, Nguyễn An Ninh cũng đã khẳng định: “Chính nhân dân tạo lập nhà vua, và không phải vua lập ra dân”, “trên mảnh đất An Nam này, dân là vua chứ không phải người ngồi trên ngai vàng”. Quan điểm dân là chủ nước, nước là nước của dân là một bước chuyển tư tưởng căn bản từ quân chủ sang dân chủ. Đây là một điều mới mẻ trong suy tư chính trị đương thời, là một bước tiến vượt bậc so với suy tư chính trị phong kiến. Để thực hiện quyền dân chủ, các nhà tư tưởng chủ trương: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh! Trong hệ thống tư tưởng chính trị của các nhà tư tưởng dân chủ tư sản cũng đã hình thành quan niệm về một mô hình chính thể. Phan Bội Châu cho rằng, phải xóa bỏ chính thể quân chủ, xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa gồm có ba viện, do nhân dân làm chủ, quyền lực ở nơi dân và được thực hiện thông qua các đại biểu, mọi việc do dân định liệu. Có thể nói, các nhà tư tưởng dân chủ đã ý thức được tầm quan trọng của nền chính trị, coi đó là yếu tố quyết định chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân, Phan Châu Trinh coi cái gốc tạo nên họa phúc của nhân dân chính là ở nền chính trị.
 Tuy nhiên, có thể nói, bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX là một bước chuyển căn bản, lâu dài, khó khăn và hết sức phức tạp của các nhà tư tưởng. Tư tưởng chính trị tập trung vào nội dung quan trọng là tự cường dân tộc, nâng cao dân trí, bồi dưỡng sức dân, truyền bá tư tưởng dân chủ và dân quyền, độc lập dân tộc là mục đích tối cao với tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Tư tưởng chính trị này là sự tiếp thu những giá trị, những tinh hoa của phương Đông và phương Tây, đặc biệt là tư tưởng dân chủ, tiến bộ phương Tây. Mặc dù có những nội dung mới, cách mạng và tiến bộ, thể hiện tinh thần yêu nước nhiệt tình, căm thù giặc cao độ, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh lúc bấy giờ, trong tư tưởng chính trị giai đoạn này có những biểu hiện dao động, mơ hồ, thậm chí có lúc đi đến thỏa hiệp với thực dân. Chẳng hạn, Phan Châu Trinh chủ trương dựa vào Pháp để thực hiện dân chủ, còn Phan Bội Châu thì chủ trương dựa vào Nhật để cầu viện.
2.2. Cuộc vận động giai phóng dân tộc từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
2.2.1. Lương Văn Can nhà tư tưởng tiêu biểu cho phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX  
2.2.1.1. Cuộc đời của Lương Văn Can
Lương Văn Can (1854-1927), tên tự là Ôn Như, hiệu là Sơn Lão, là nhà cách mạng Việt Nam, là một trong những người sáng lập ra và làm hiệu trưởng trường Đông Kinh nghĩa thục năm 1907. Ông quê ở làng Nhị Khê, bây giờ là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội, Việt Nam.
Ông sinh ra ở làng Nhị Khê, tỉnh Hà Đông trong một gia đình nghèo. Hồi nhỏ có lần ông phải đi làm thợ sơn trong vài tháng. Năm 1871, khi 17 tuổi, Lương Văn Can đỗ thi Hương, vào tới tam trường. Năm 1874, ông thi đỗ Cử nhân, triều đình bổ làm giáo thụ Phủ Hoài, ông từ chối, sau chính phủ Pháp cử ông làm Hội đồng thành phố Hà Nội, ông cũng không nhận. Sau đó ông ở nhà cưới vợ là bà Lê Thị Lễ, và tới năm 25 tuổi (1879) ông mở trường dạy học tại số 4 phố Hàng Đào, Hà Nội. Vì đỗ cử nhân, ông thường được gọi là “cụ Cử Can”. Ngay từ hồi trẻ, cụ đã tỏ ra có khí phách. Khi một thầy cũ, làm cách mạng bị chém, bêu đầu ở Phủ Hoài, môn đồ không ai dám xin thi hài về chôn cất sợ lụy tới thân, duy có cụ khẳng khái dâng sớ xin, triều đình cho phép và khen là người có nghĩa.
Tháng 1/1892, ứng cử vào Hội đồng Thị chính thành phố Hà Nội, một cơ quan đại nghị do Pháp lập ra, nhưng ngay sau đó rút lui.
Năm 1905 đi đầu hưởng ứng cuộc vận động Đông Du của Phan Bội Châu, cho hai con là Lương Ngọc Quyến, Lương Ngọc Nhiễm và một số học trò du học sang Nhật.
Năm 1906 Hai lần hội đàm với Phan Châu Trinh bàn kế Duy Tân và kế hoạch thành lập trường học Duy Tân.
Vào thời điểm này Việt Nam đang ở nằm trong thế suy vong và đứng trước họa xâm lăng của người Pháp. Là nhà nho yêu nước, ông đã học hỏi theo sách của các nhà tư tưởng tiến bộ của phương Đông như: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu,... lẫn phương Tây như: Voltaire, Montesquieu,... nhằm tìm con đường canh tân đất nước. Khi thấy cuộc cải cách Minh Trị thành công trên đất Nhật Bản, học tập người Nhật, ông cùng bạn bè tìm cách thành lập một trường học, theo kiểu trường Khánh Ưng nghĩa thục của Phúc Trạch lập ở Nhật, để làm cuộc cách mạng về văn hóa, đồng thời tuyên truyền lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp trong dân chúng Việt Nam. Với mục đích đó, năm 1907 trường Đông Kinh nghĩa thục ra đời ở Hàng Đào, và căn nhà ông ở phố Hàng Đào cũng trở thành nơi học. Từ trường Đông Kinh nghĩa thục này ở Hà Nội, phong trào Đông Kinh nghĩa thục lan đi rất nhanh và sâu rộng tới các tỉnh như: Hà Đông, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Quảng Nam,... làm thực dân Pháp lo sợ.
Tháng 2/1907 Tổ chức hai cuộc họp tại số 4 Hàng Đào để điều hoà đường lối của phong trào Đông Du bạo động và Duy Tân ôn hoà, xác định phương hướng hoạt động, hệ thống tổ chức và trụ sở của Đông Kinh Nghĩa thục, ông được tín nhiệm bầu làm thục trưởng.
Trong thời gian từ tháng 5/1907 đến tháng 1/1908 điều hành hoạt động của Đông Kinh Nghĩa thục, biên soạn bài giảng, điều hoà hai phái ôn hoà và bạo động trong nội bộ trường.
Tháng 10/1908 Sau khi xảy ra hai vụ Trung kì dân biến và Hà thành đầu độc phong trào Đông Kinh Nghĩa thục bị giải tán, nhiều cựu thành viên của Đông Kinh Nghĩa thục bị tù đày. Lương Văn Can được thả vì không có chứng cứ của hành vi bạo động.
Năm 1910 gởi hai thanh niên cùng một số tiền lớn sang Quãng Đông để chi viện cho Phan Bội Châu. Năm 1912 gởi tiền trợ giúp cho các nhà cách mạng Đông Du ở Quảng Tây. 
Tháng 4/1913 sau hai vụ đánh bom của Việt Nam Quang phục Hội ở Thái Bình và Hà Nội, ông bị bắt vào nhà ngục Hoả Lò, đến tháng 9, ông bị kết án 10 năm biệt xứ và phải đi đày ở Campuchia.
Trong hai năm 1916- 1917 nhận thấy điều kiện cần thiết về thị trường ông lập hai hiệu buôn ở Nam Vang cho con gái và con dâu buôn bán, lấy tiền trợ giúp các chiến sĩ Việt Nam và đặt mua các sách báo cách mạng ở nước ngoài, đồng thời tranh thủ thời gian soạn sách.
Tháng 12/1921 được tha về Hà Nội. Lập trường Ôn Như ở số 4 Hàng Đào. Biên soạn và xuất bản hàng loạt sách về Hán tự, giáo dục nhân cách, giáo dục gia đình, địa lí, lịch sử và kinh doanh, thương mại. Tồ chức mạng lưới cách mạng trong nước.
Năm 1924 xây tặng xã Nhị Khê một ngôi trường, và lót gạch đường làng. Tháng 4/1926 tham gia tổ chức lễ tri điệu Phan Châu Trinh tại Hà Nội.
Tháng 3/1927 tham gia “Uỷ ban Triệt hồi” để nghiên cứu các điều kiện triệt hồi một cách hoà bình sự hiện diện về quân sự, hành chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương và hoạch định mối quan hệ Việt- Pháp trong tương lai. Ba tháng sau ông từ trần tại nhà riêng số 4 Hàng Đào, mặc dù dưới gọng kềm của chế độ thực dân, lễ truy điệu do các nhà yêu nước tổ chức long trọng ở Hà Nội và Sài Gòn, cùng với đông đảo học trò và đồng bào các giới đã tìm đủ mọi cách để bày tỏ lòng thương tiếc và tri ân thành kính đối với Lương Văn Can. Đó là niềm an ủi lớn lao đối với hương hồn của cụ.
2.2.1.2. Con đường cách mạng của nhà yêu nước Lương Văn Can
Giai đoạn tiềm dưỡng: (1854- 1905)
Lương Văn Can quê ở xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội. Đây chính là vùng đất sản sinh ra danh nhân Nguyễn Trãi. Chính vì vậy anh hùng Nguyễn Trãi vừa là niềm tự hào, vừa là tấm gương lớn mà Lương Văn Can  quyết noi theo để lập chí, cứu dân.
Cụ sinh ra trong gia đình nghèo, mưu sinh bằng nghề nông và nghề tiện gỗ. Nhưng vì quý sự học, thân phụ của cụ đã cầm cố hết ruộng đất để cho các con theo đuổi bút nghiên. Két quả của sự đầu tư đó là Lương Văn Can và người em Lương Ngọc Lâm đều lần lượt thi đỗ cử nhân, làm rạng rỡ gia tộc họ Lương. Năm 1985 được triều đình bổ làm Giáo thụ phủ Hoài Đức nhưng cụ đã khước từ. Trong Lương gia thứ chi phả, cụ giải thích: “Ta tính vốn điềm đạm, pháp trực, không ưa chỗ náo nhiệt, thấy vận nước gian nan, tài mình thô sơ, vẫn chịu thủ tuyết ở nhà dạy học”. Hai chữ “thủ tuyết” đã nói rõ quan điểm chính trị của Lương Văn Can đối với tình hình đất nước lúc bấy giờ.
Sau hai Hoà ước Hacmanh và Patơnốt chúng càng siết chặt guồng máy cai trị thuộc địa. Ngày 31/12/1891 một nghị định mới được ban hành, cho phép những người Pháp cư ngụ mà một số hạng người Việt Nam được bầu ra Hội đồng Thị chính của hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng. Lúc này cụ Cử Can đã ghi tên vào ứng cử vào Hội đồng Thị chính thành phố Hà Nội nhằm mục đích yêu cầu chính quyền thực dân thi hành những việc ích quốc lợi dân. Qua thời gian tham gia hoạt động Cụ nhận thấy bộ mặt thật của Hội đồng này là một công cụ cai trị của chính quyền thực dân, cảm thấy không giúp được gì nên từ về. Sự lựa chọn của Lương Văn Can cũng là thái độ chung của nhiều sĩ phu tự trọng trong bối cảnh bấy giờ.
Ngày 22/3/1897 Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã gửi cho Bộ trưởng Thuộc địa Pháp bản Dự án chương trình hành động gồm 7 điểm. Thực chất của dự án đó là xúc tiến, cũng cố, tăng cường các bộ máy hành chính, quân sự, cảnh sát, toà án và nhà tù nhằm cũng cố bộ máy thống trị.
Về hành chính: chúng sử dụng chính sách “chia để trị”, chia cắt Việt Nam thành ba xứ với ba chế độ chính trị khác nhau. Riêng ở Bắc kì chúng dùng chính sách “trực trị” tước hết quyền nội trị của Nam Triều.
Về quân sự: chúng sử dụng chính sách “Dùng người Việt trị người Việt”. Thành lập quân đội chính quy, lính khố xanh, lính lệ…và bắt thanh niên thuộc địa đi lính.
Về tư pháp: Chính quyền thực dân thành lập ty cảnh sát ở mỗi tĩnh, thiết lập nhà tù và trại giam từ cấp huyện trở lên.
Về kinh tế: Chính quyền thực dân thành lập Ngân hàng Đông Dương, thực hiện cho vay nặng lãi, phát triển giao thông để thuận tiện cho việc vơ vét tài nguyên và đàn áp các cuộc khởi nghĩa, đẩy mạnh những ngành công nghiệp thu lợi nhuận nhanh và không làm tổn hại nền công nghiệp chính quốc như khai thác than và quặng, vật liệu xây dựng, điện, nước, chế biến nông lâm sản; cướp ruộng đất lập đồn điền thu tô theo kiểu phong kiến…Riêng về thương mại chúng còn ưu đãi cho tư sản mại bản Hoa kiều làm lũng đoạn thị trường Việt Nam. Xuất khẩu nguyên liệu thô với giá rẻ và nhập khẩu thành phẫm với giá thật cao để thu lợi nhuận tối đa. Miễn thuế hoàn toàn cho hàng hoá Pháp và đánh thuế nặng hàng hoá từ các nước khác nhập vào thị trường Việt Nam, biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng ế thừa, kém phẫm chất, bóp chết các ngành tiểu thủ công nghiệp của Việt Nam.
Về văn hoá, giáo dục, chúng thi hành chính sách ngu dân về giáo dục và chính sách đầu độc về văn hoá. Thực dân Pháp duy trì những phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, mặt khác tuyên truyền lối sống trác tán truỵ lạc, gây tâm lí tự ty phục tùng vong bản, phổ biến tư tưởng triết học Trung Quốc nhằm duy trì  và cũng cố ý thức hệ phong kiến lỗi thời…Còn trong lĩnh vực giáo dục, chúng loại bỏ nền Hán học, thiết lập nền giáo dục nô dịch ở khắp 3 kì. Qúa trình thực dân hoá nền giáo dục Việt Nam được chia thành 3 giai đoạn:
·      Giai đoạn đầu từ năm 1867 đến năm 1883, thực dân Pháp đẩy mạnh việc thực dân hoá nền giáo dục ở Nam Kì.
·      Giai đoạn hai từ năm 1884 đến năm 1905 được đánh dấu bởi việc cải tiến cách đào tạo quan lại của Nam triều theo hướng tay sai hoá và thành lập các trường nghề ở Bắc Kì và Trung Kì để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa.
·      Giai đoạn ba từ năm 1906 đến hết thế giới thứ nhất, được mở đầu bằng một loạt văn bản pháp quy nhằm thực dân hoá hoàn toàn nền giáo dục ở cả ba kì.
Tóm lại, phương thức cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam là kết hợp bộ máy đàn áp do thực dân Pháp trực tiếp chỉ huy với chế độ phong kiến và bộ máy quan liêu bản địa, dựa vào đó cướp đoạt tài nguyên bản xứ, đồng thời biến nơi đây thành thị trường tiêu thụ hàng hoá chính quốc. Do các chính sách đó mà vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nền kinh tế Việt Nam ngày càng kiệt quệ và phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp, nền giáo dục và đời sống văn hoá của nhân dân vô cùng lạc hậu và thấp kém, xã hội Việt Nam diễn ra những chuyển biến sâu sắc. Mặt dù có sự xuất hiện của giai cấp công nhân, tư sản và tiểu tư sản. Tuy nhiên, nhìn chung thì vào đầu những năm đầu thế kỉ XX, Việt Nam vẫn còn là một vùng nông thôn rộng lớn, điểm xuyết một ít sắc màu hiện đại. Xã hội vẫn bao gồm hai thành phần cơ bản là giai cấp nông dân bị trị và giai cấp phong kiến thống trị. Ở giữa hai giai cấp đó là tầng lớp nho sĩ đang phân hoá thành ba xu hướng chính: Những người làm tôi cho giặc; những người có khí tiết nhưng bế tắc, ẩn dật; và những người tiếp tục mưu tìm một đường lối cứu nước mới thích hợp hơn.
Giai đoạn nhập cuộc (1905- 1913)
Trước tình hình các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá- giáo dục của đất nước đều bị thực dân nữa phong kiến giam cầm như vậy, các sĩ phu yêu nước đã không cam chịu. Qủa vậy, không lâu sau khi tiếng súng Phan Đình Phùng lịm tắt, một đường lối mới cho sự nghiệp giải phóng non sông đã được các sĩ phu yêu nước vạch ra dưới ánh sáng của tư tưởng Duy Tân của Nhật Bản, Trung Hoa. Và sau khi giác ngộ được tư tưởng mới, các sĩ phu yêu nước đã hâm hở dấn thân, giương cao ngọn cờ Duy Tân cứu nước, lôi kéo quần chúng ở cả ba kì tham gia, hồi sinh phong trào yêu nước, đưa sự nghiệp cứu nước sang giai đoạn mới: duy tân tư sản hoá để tự cường giành độc lập.
Vào tháng 5/1904, tại Quãng Nam, Phan Bội Châu và Nguyễn Thành cùng với hơn 20 đồng chí đã thành lập Duy Tân Hội, chủ trương “đánh đổ chính phủ Pháp, khôi phục Việt Nam, kiến thiết quân chủ lập hiến quốc”, cử Cường Để làm hội chủ, và tính kế xuất dương cầu viện. Trong thời gian đó, chiến tranh Nga Nhật  bùng nổ ở vùng Đông Bắc Á, được tin Nga thất thủ, Nguyễn Thành bàn với Phan Bội Châu xuất dương sang Nhật xin quân ứng viện, nếu không được thì cũng có thể nhờ họ giúp tư lương, khí giới. Sang Nhật, nhận được sự ân cần tiếp đón và lời khuyên của Lương Khải Siêu, Phan Bội Châu đã thay đổi quan điểm và đướng lối: trong khi chờ thời cơ tiến hành bạo động, cần phải tiến hành một cuộc vận động chấn hưng kinh tế, nâng cao lòng yêu nước và trình độ nhận thức của nhân dân, đưa người ra nước ngoài học tập…chỉ trong chuyến đi về nước chớp nhoáng của cụ Phan đã có 9 du học sinh ở Bắc và Trung kì hưởng ứng và lập tức xuất dương. Cùng thời điểm với chuyến xuất dương của Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính và Tăng Bạc Hổ, vào tháng 2/1905 xuất phát từ Quãng Nam, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đã Nam du đến tận Phan Thiết để vận động duy tân. Sau chuyến đi đường lối vận động duy tân rộng khắp và bất bạo động đã thật sự định hình. Cũng từ đó, phong trào duy tân đã dấy lên sôi nổi ở miền Trung, đặc biệt là ở Quãng Nam.
Tiếp tục cuộc vận động ấy, đầu năm 1906, Phan Châu Trinh lên đường ra Bắc, gặp cụ Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, Vũ Hoành bàn kế duy tân. Sau đó sang Hương Cảng và Quãng Đông gặp Phan Bội Châu bàn luận về đường lối sau này. Qua quá trình tìm hiểu khảo sát tình hình chính trị ở Nhật, đã đến thăm và tìm hiểu cách thức tổ chức và huấn luyện của Khánh Ứng Nghĩa thục do Phúc Trạch Dụ Cát thành lập năm 1858. Sau khi về Hà Nội cụ tìm gặp Lương Văn Can để thông tin về tình hình ở Nhật, hai cụ đã nhất trí thành lập một nghĩa thục tựa như Khánh Ứng để mở mang dân trí, mưu kế lâu dài. Từ năm 1907 về sau, nhà Nghĩa thục Đông Kinh phát khởi ở giữa Hà Nội; Thương hội; Học hội rầm rầm, rực rỡ ở Quãng Nghĩa, Quãng Nam. Lần đầu tiên cái tên Đông Kinh Nghĩa thục được lựa chọn, mục đích của Nghĩa thục được vạch rõ: khai trí cho dân, mở lớp dạy học không lấy tiền và tổ chức những cuộc diễn thuyết trao đổi tư tưởng trong dân chúng. Trường sẽ dạy cả Việt văn, Hán văn, Pháp văn. Chương trình bỏ lối học từ chương khoa cử mà chú trọng vào thường thức và thực nghiệm. Trường do Lương Văn Can làm thục trưởng. Về tài chính thì do hội viên tự nguyện đóng góp vào và quyên thêm từ những chỗ quen thuộc hảo tâm.
Qua những việc trên, có thể nói công đầu trong việc thành lập Đông Kinh Nghĩa thục thuộc về Phan Châu Trinh và Lương Văn Can, hai chí sĩ Duy Tân tiêu biểu của miền Trung và miền Bắc. Phan Châu Trinh đóng vai trò là cầu nối gắn kết phong trào Đông Kinh Nghĩa thục với phong trào Duy Tân ở miền Trung, cũng nhờ chuyến đi thực tế của Phan Châu Trinh tại Nhật mà sáng kiến thành lập một trường học theo kiểu mới đã được thực thi. Lương Văn Can là người có tầm nhìn xa, sớm thấy tầm quan trọng của việc đào tạo thế hệ hậu tiến sau này, cụ là người đi đầu trong cuộc vận động đưa thanh niên đi học do Phan Bội Châu khởi xướng và cụ cũng là người đầu tiên cùng Phan Châu Trinh bàn việc sáng lập Đông Kinh Nghĩa thục. Lương Văn Can còn là một nhà nho có khí tiết, được cả hai phái Đông Du- bạo động và Duy Tân- ôn hoà trọng vọng.
Như vậy, sau hai cuộc họp của những thành viên chủ yếu thuộc phái ôn hoà và một vài người thuộc phái bạo động, phương hướng hoạt động và bộ máy điều hành của Đông Kinh Nghĩa thục đã được hình thành, chỉ còn chờ có giấy phép là đi vào hoạt động. Với sự chuẩn bị hết sức chu đáo, ngay khi chưa được cấp giấy phép trường đã đi vào hoạt động.
Về địa điểm trường, ngoài ngôi nhà của Lương Văn Can tại số 4 Hàng Đào, ngoài ra còn tổ chức ở các đình, chùa hoặc nhà rộng thuê, mượn của tư nhân.
Về chuơng trình và phương thức hoạt động, học sinh theo học gồm nhiều lứa tuổi chia làm 8 lớp, tuỳ theo nhu cầu và trình độ, tất cả đều không đóng học phí. Ngoài ra trường còn mở các lớp đêm cho những người bận việc, những ngày rằm trường tổ chức các hoạt động ngoại khoá thu hút cả những nhà nho lớn tuổi. Cơ quan ngôn luận là hai tờ báo: Đăng Cổ Tùng Báo do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút và Đại Việt Tân Báo do Đào Nguyên Phổ làm chủ bút.
Về tổ chức nhân sự, lập ra bốn ban để chuyên trách các hoạt động chính của trường: Ban giáo dục lo việc chiêu sinh và giảng dạy; Ban cổ động, có nhiệm vụ tổ chức bình văn, diễn thuyết để cổ động lòng yêu nước, chống lối học thi cử cổ hủ, cổ động lối sống mới…; Ban trước tác, chuyên lo biên soạn tài liệu giảng dạy và tài liệu tuyên truyền; Ban tài chính, lo kinh phí cho trường, phụ trách việc thu chi. Hầu hết các thành viên của Đông Kinh Nghĩa thục đều được phân phối vào bốn ban này. Bên cạnh các lớp học tại Hà Nội, trong quá trình hoạt động, trường đã nhanh chống tổ chức được bốn phân hiệu tại hai tĩnh lân cận là Hà Đông, Sơn Tây. Như vậy, tổng số thành viên trực tiếp tham gia bộ máy hoạt động của Đông Kinh Nghĩa thục lên đến ít nhất là 42 người, bao gồm những gương mặt ưu tú trí thức nhất của hai miền Trung Bắc. Mục đích sâu xa của nhà trường là “dùng hình thức trường học, diễn thuyết, bình văn, báo chí để: Bồi dưỡng và nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc và chí tiến thủ cho quần chúng; Truyền bá một nền học thuật mới và nếp sống văn minh; Phối hợp hành động với các sĩ phu đã xuất dương và hỗ trợ cho phong trào Đông Du”.
Nhiệt tâm của các sỉ phu và lòng yêu nước tiềm tàng của quần chúng đã gặp nhau như lửa gặp củi khô, nên vừa chào đời Đông Kinh Nghĩa thục đã ngay lập tức được đông đảo sĩ tử, tri thức nhiệt liệt hoan nghênh. Không chỉ thế hoạt động và ảnh hưởng của phong trào còn nhanh chóng mở rộng ra khắp các vùng lân cận rồi lan sang các tỉnh miền Bắc, miền Trung. Ngoài 4 phân hiệu của trường được thành lập tại hai tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, sĩ phu của một số tỉnh khác của Bắc Kì cũng đua nhau tổ chức các trường lớp mô phỏng Đông Kinh Nghĩa thục như: Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương…
Song song với việc phát động phong trào mở trường, lập hội kinh doanh, phong trào còn ám trợ cho phái Đông Du bạo động. Bên cạnh việc điều hành nhà trường, Lương Văn Can còn phải khéo léo điều hoà giữa hai phái ôn hoà và bạo động để thực dân không có cớ đóng cửa trường. Nhận thấy hai mâu thuẩn này ngày càng bộc lộ rõ, cụ đã đề nghị tách các sĩ phu bạo động khỏi trường. Đề nghị này được mọi người chấp thuận, nhưng chưa kịp thi hành thì Nghĩa thục đã bị thu hòi giấy phép hoạt động. Chúng cho đóng cửa tờ Đăng Cổ Tùng Báo, cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa thục. Do các cụ đã dự tính từ trước nên khi chính quyền thực dân tiến hành khám xét chúng không tìm thấy chứng cứ để bắt giữ các thành viên của nhà trường, bảo toàn được lực lượng. Đó có thể xem là thắng lợi thứ nhất của các chí sĩ Đông Kinh Nghĩa thục đối với thực dân- phong kiến.
Thắng lợi thứ hai của các cụ còn đáng kể hơn. Trước khi đóng cửa, ảnh hưởng của phong trào Đông Kinh Nghĩa thục và của phong trào Đông Du và Duy Tân quá mạnh nên ngày 24/9/1907 toàn quyền Đông Dương Paul Beau đã phải ra nghị định thành lập trường Đại Học Đông Dương tại Hà Nội. Đến cuối năm 1907, thực ddân Pháp lại thành lập một trường nữa, gọi là “Học Quy Tân trường” mô phỏng theo Đông Kinh Nghĩa thục.
Mặt khác, dù rất cảnh giác nhưng Pháp không thể nào lường hết tác động của phong trào Duy Tân đi vào quần chúng. Ngày 10/3/1908, cuộc dân biến “hớt tóc, xin xâu” của nhân dân Trung Kì đã bùng nổ và lan nhanh sang các tỉnh khác. Chưa giải quyết xong thì ngày 27/6/1908, lại xảy ra vụ “Hà Thành đầu độc” của binh lính người Việt mưu toan đánh chiếm thành phố Hà Nội. Trước tình hình đó, chính quyền thực dân lập tức vứt bỏ mặt nạ khũng bố dã man phong trào và các sĩ phu yêu nước. Chúng còn yêu cầu chính phủ Nhật giải tán du học sinh Việt Nam tại các trường của Nhật. Hệ thống tổ chức của ta trong và ngoài nước đều tan rã, cán bộ bị chém giết, tù đài, nên kể từ thời điểm tháng 10/1908, phong trào Đông Du, Duy Tân đã thật sự cáo chung.
Tuy vậy, ý chí cứu nước của Lương Văn Can vẫn không thay đổi. Thấy phong trào trong nước tan rã, cụ hướng ra hải ngoại. Năm 1910, nghe Phan Bội Châu, Lương Ngọc Quyến và những người còn lại trong tổ chức Đông Du bị chính phủ Nhật trục xuất đang tạm trú ở Quãng Đông, Lương Văn Can đã tổ chức đưa sang Quãng Đông hai thanh niên Bắc Kì là Dư Tất Đạt và Lâm Đức Mậu để tham gia tổ chức của Phan Bội Châu. Đồng thời Lương Văn Can còn gom góp tiền nhà được 250 đồng chuyển sang Quãng Đông để giúp Phan Bội Châu và các đồng chí qua cơn cùng khốn.
Giai đoạn tù đày (1913- 1921)
Ngay sau hai vụ đánh bom của Việt Nam Quang phục Hội. Và, có lẽ biết được Lương Văn Can đã từng chi viện nhân lực và tài chính cho tổ chức Phan Bội Châu ở nước ngoài, chúng cũng bắt giam cả Lương Văn Can vào ngục Hoả Lò Hà Nội. Ngay cả những chí sĩ đang hoạt động ở nước ngoài cũng bị thực dân ra tay bức hại. Vì vậy, sau đợt khũng bố này, đầu não và mạng lưới trong và ngoài nước của Việt Nam Quang phục Hội đã hầu như tan rã.
Tại nơi lưu đày, cụ phải tự lo kinh tế, nhưng khác với người thường, trong hoàn cảnh đó Lương Văn Can đã nhìn thấy ở Nam Vang và Campuchia một thị trường còn trống trải, rất thích hợp cho các loại hàng hoá từ Việt Nam sang. Cụ bèn mướn nhà trên đường An Dương ở thành phố Nam Vang mở hiệu buôn Đại Thanh giao cho hai con quản lí, và mướn nhà trên đường Quai Piquet ở cách đó không xa mở tiệm buôn Hưng Thạnh do Nguyễn Thị Hồng Đính trông nôm. Riêng Hưng Thạnh đã phát triển thành một hiệu buôn lớn. Nhờ đó, Lương Văn Can và con gái, con dâu đã có một nguồn tài chính dồi dào để trợ giúp các chiến sĩ Việt Nam và đặt mua sách báo nước ngoài. Sau khi về nước, đường lối kinh doanh của cụ ở Nam Vang vẫn được bà Nguyễn Thị Hồng Đính tiếp tục cho đến năm 1931. Nhưng thực tế là công cuộc kinh doanh có tính cách “mở đường” của cụ đã gây một ấn tượng rất mạnh mẽ đối với thương gia Việt Nam lúc bấy giờ, khiến cho họ quan tâm đến thị trường Canpuchia và theo gương cụ sang Campuchia buôn bán. Những lúc rảnh rỗi cụ tập trung soạn sách. Đây là công việc hứng thú của cụ và thấy có trách nhiệm cần phải làm. Trong hành trạng, cụ viết: “Ta nghĩ người ta làm việc hẳn phải có hai lòng đặc biệt, một là: lòng trách nhiệm, hai là: lòng hứng vị”. Trong 8 năm ở Nam Vang cụ đã soạn được một quyển Gia huấn, một bộ Hán học tiệp kính, một bộ Hán tự quốc âm và hai cuốn Thương học phương châm và Kim cổ cách ngôn. Đây là hai cuốn sách bàn về việc kinh doanh được cụ đúc kết cho đến nay nội dung của nó vẫn còn làm cho các nhà khinh doanh và nghiên cứu khâm phục. Qủa thật, những năm tù đày cụ không uổng phí một chút nào.
Giai đoạn chuyển giao (1921- 1927)
Năm 1921, sau hơn 8 năm tù đài, cụ mới được giảm án và trở về Hà Nội. Lúc này Lương Văn Can đã 67 tuổi, ông cùng với Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng vẫn tiếp tục dấn thân đấu tranh trong hoàn cảnh mới. Tại ngôi nhà số 4 Hàng Đào, Lương Văn Can tái lập một ngôi trường, gọi là trường Ôn Như, vừa dạy vừa tiếp tục thực hiện những công việc ích quốc lợi dân. Năm 1924, để giúp đỡ con em ở quê hương, Lương Văn Can đã dùng tiền nhà để xây dựng xã Nhị Khê một ngôi trường rất khang trang, và lót gạch toàn bộ đường làng. Tuy nhiên, tâm trí cụ luôn hướng về một quê hương rộng lớn hơn nhiều là tổ quốc Việt Nam.
Tại Hà Nội, Lương Văn Can đã tham gia vào Ban Tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh. Bên cạnh những việc ấy, Lương Văn Can cũng không quên công việc yêu thích của mình là soạn sách. Tiếp tục sự nghiệp “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của Đông Kinh Nghĩa thục trong hoàn cảnh mới. Trong sáu năm cuối đời cụ đã biên soạn và dịch hơn một chục cuốn sách thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ngày 12/6/1927, Lương Văn Can từ trần tại nhà riêng, hưởng thọ 73 tuổi. Mặc dù rút kinh nghiệm trong đám tang của Phan Châu Trinh, chính quyền thực dân đã hạ lệnh cấm tiến hành lễ truy điệu. Dẫu sao, trong gọng kềm của chế độ thực dân, đồng bào các giới ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn cũng tìm đủ mọi cách để bài tỏ lòng thương tiếc và tri ân thành kính đối với Lương Văn Can. Đó là an ủi lớn lao đối với hương hồn của cụ.
2.2.1.3. Phong trào đông kinh nghĩa thục
Văn hoá giáo dục
Chương trình hoạt động của nhà trường tập trung chống tư tưởng phong kiến thối nát, thực hiện cuộc cải cách tư tưởng văn hoá, xã hội. Trước hết là chống cựu học và hủ nho. Cần phải chống nền giáo dục cũ của Hán nho, Tống nho mà thực dân Pháp lợi dụng thực hiện chính sách ngu dân thống trị nhân dân ta. Chống chữ Hán và khoa cử, Phan Châu Trinh nhận định: không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam. Còn cái tệ “khoa cử” thì Dương Bá Trạc tỏ thái độ xem thường, xem không đáng một xu: “Anh còn muốn cái cử nhân ư? Này, tôi bán cho anh một xu thôi!”. Mặt khác luôn luôn đề cao chữ Quốc ngữ, trong cách học và phương pháp dạy học cũng có nhiều thay đổi theo “Tây học”, tổ chức nhiều buổi đọc báo, bình văn, diễn thuyết, thảo luận, đóng kịch…thu hút nhiều tầng lớp sĩ phu tham gia.
Nhờ lòng yêu nước nhiệt thành và tinh thần đoàn kết của các sĩ phu nên nhà trường lập ra điều nhanh chống phát huy tác dụng, các sĩ phu yêu nước ở hai miền Trung Bắc đã cùng phối hợp lập ra một cơ quan công khai để truyền bá tư tưởng yêu nước và duy tân ngay tại trung tâm xứ Bắc, các hoạt động của Đông Kinh Nghĩa thục đều hướng vào mục tiêu chống nền cựu học, bọn hủ nho, chữ nho và khoa cử, cổ động học chữ quốc ngữ, học theo phương thức mới, đề cao nhân bản, phát huy óc sáng tạo, đề cao tinh thần dân tộc và lòng yêu nước.
Tư tưởng xã hội
Theo tài liệu, cuối năm 1906, sau khi hội kiến với Phan Bội Châu ở Nhật về nước, Phan Chu Trinh đã gặp gỡ Lương Văn Can và nêu ý định thành lập một trường học kiểu mới, giống mô hình của trường Khánh Ứng Nghĩa thục ở Nhật. Một thời gian sau, Phan Bội Châu cũng về nước, cùng Phan Chu Trinh, Lương Văn Can và Tăng Bạt Hổ họp tại phố Hàng Đào, quyết định mở trường, lấy tên là Đông Kinh Nghĩa thục với mục đích: khai trí cho dân, mở những lớp dạy học không lấy tiền. Đông Kinh là tên trường, Nghĩa Thục là trường làm việc nghĩa. Lương Văn Can được cử làm Thục trưởng.
Tháng 3/1907, mặc dù chưa được cấp giấy phép của chính quyền thuộc địa, trường vẫn tạm thời khai giảng tại gác trên nhà số 4, phố Hàng Đào, với 2 lớp chuyên dạy Quốc ngữ; với khoảng 70 học sinh, phần đông là con cháu hội viên. Đây vốn là căn nhà cụ Lương Văn Can cho mượn. Đến tháng 5, Thống sứ Bắc Kỳ mới chính thức cấp giấy phép cho trường hoạt động. Trường phải mượn thêm căn nhà số 10 gần đó để mở rộng, nhằm đáp ứng sự phát triển của trường. Lúc phát triển nhất, trường có đến 40 lớp và trên 1.000 học sinh.
Phong trào có hai mục tiêu:
·      Bỏ tư tưởng Khổng giáo, Tống nho, Hán nho. Du nhập những tư tưởng mới, phát triển văn hoá, thúc đẩy sử dụng chữ quốc ngữ thông qua các hoạt động giáo dục, báo chí, tuyên truyền, cổ động.
·      Chấn hưng thực nghiệp. Mở tiệm buôn, phát triển công thương.
Lần đầu tiên Đông Kinh nghĩa thục công khai phê phán tư tưởng phong kiến Nho giáo lỗi thời, những tệ tục của xã hội như rượu chè, ăn uống, mê tính dị đoan, nếp sống kém văn minh bị đã kích kịch liệt. Mặt khác, do ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, những tư tưởng tiến bộ mới cũng dần phát triển trong phong trào cách mạng nước ta đã đáp ứng được phần nào nguyện vọng của quần chúng bị áp bức bóc lột đang phải sống trong cuộc sống bần cùng và tâm tối dưới ách thống trị nặng nề của đế quốc và phong kiến.
Kinh tế
Kêu gọi chấn hưng thực nghiệm, thành lập các hội buôn, bỏ vốn mở mang công nghệ, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và khai mỏ…Chung quy là nhằm “đánh đổ tư tưởng hủ lậu của phái nhà nho bảo thủ và trang bị cho học sinh một ít tư tưởng về khoa học tự nhiên, về văn học, về đạo đức công dân, đặc biệt là về tinh thần yêu nước”.
Bên cạnh các hoạt động chính, Đông Kinh Nghĩa thục còn khuyến khích các hội viên xúc tiến hàng loạt hoạt động kinh doanh để vừa thực hành tư tương chấn hưng thực nghiệp, vừa cung cấp tài chính cho nhà trường và cho phong trào Đông Du. Đồng thời, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tư sản dân tộc non trẻ phát triển.
Phong trào Đông Kinh Nghĩa thục bị dập tắt
Toàn quyền Beau hả dạ một chút sau cái vụ mở trường Đại học trong một tuần nhưng vẫn câm gan vì bài “Thiết tiền ca” đã phá tan kế hoạch kinh tế của ông. Người Pháp biết rằng, tác giả bài đó là một người trong Nghĩa thục, song chưa nắm được bằng cớ nên chưa làm gì được; tới khi thấy các nhà ái quốc của ta hoạt động ngày càng hăng, ảnh hưởng ngày một lớn nên chúng liền thẳng tay đàn áp. Đầu 1908 chính quyền thực dân thu giấy phép của Đông Kinh Nghĩa thục lấy cớ làm cho lòng dân náo động. Trường hoạt động chưa đầy một năm, các cụ đã đoán được trước tình hình và đã thủ tiêu hết những giấy tờ quan trọng, nhất là bản in của các bài ca ái quốc và những sách của cụ Sào Nam gởi về; số sách nào có thể làm luỵ cho hội viên thì giấu kỉ nên khi nhân viên Pháp đến xét không tìm thấy được gì, hội viên không ai bị giam cầm. Tuy vậy, công việc diễn thuyết phải dẹp, công việc chấn hưng công nghệ vẫn tiếp tục tiến hành, ít lâu sau những hiệu buôn cũng dần dần đóng cửa vì nhiều cụ tạm lánh mặt nên thiếu người quản lí. Các nhà nho tưởng như vậy đã yên, không ngờ mấy tháng sau ba biến cố quan trọng liên tục xảy ra trong nước làm cho các cụ bị luỵ.
Trước hết là vụ kháng thuế ở Quãng Nam nhanh chống lan rộng và bị ảnh hưởng khá lớn. Hàng vạn người đều hớt tóc kéo nhau lại vây toà sứ Quãng Nam xin giảm thuế. Chính phủ Pháp đỗ tội cho các cụ Sào Nam, Tây Hồ, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đã xúi dân nỗi loạn.
Vụ thứ nhì là âm mưu bạo động của Đề Thám. Chúng không thể ngờ là trên lãnh thỗ Việt Nam lại có một khu tự trị ở Yên Thế, có quân đội riêng, hành chính riêng, tài chính riêng. Năm 1908 chúng dò la biết được Đề Thám vẫn liên lạc với Sào Nam, thu dụng thêm nghĩa binh ở miền Thanh Nghệ Tĩnh, lập thêm đồn, mua thêm khí giới, bèn ra tay trước; tháng 6/1908 xử tử 12 người hoạt động cho Đề Thám, sau đó tấn công nghĩa quân.
Vụ thứ ba là vụ đầu độc quan binh Pháp ở Hà Nội cùng năm 1908 có lẽ do Đề Thám chủ mưu.
Tình hình đó, Pháp muốn trừ hậu hoạ về sau, cho bắt hết thảy các ngà cách mạng Nghĩa thục. Trong cuộc khũng bố này, các cụ Lê Đại, Lương Văn Can, Võ Hoành, Nguyễn Quyền bị bắt,… riêng cụ Lương được về, nhưng tới năm 1913, sau vụ ném tạc đạn ngày 23/4, Pháp cho là do nhóm Nghĩa thục cầm đầu nên bắt giam cụ ít lâu rồi đưa cụ đi an trí Nam Vang 10 năm. Còn những cụ khác không bị để ý nên tìm cách trốn được, những cụ bị bắt điều phải ra toà Đề hình, bị kêu án chung thân khổ sai và đày đi Côn Đảo, dù gặp dịp ân xá cũng không được hưởng.
2.2.1.4. Đánh giá về phong trào đông kinh nghĩa thục của Lương Văn Can
Đông Kinh Nghĩa thục không đơn thuần là một trường học. Thực chất nó như một tổ chức cách mạng do các sĩ phu yêu nước tiến bộ tổ chức để hưởng ứng mạnh mẽ cuộc vận động cứu nước do Phan Bội Châu và Duy Tân hội phát động. Qua 9 tháng hoạt động, Đông Kinh Nghĩa thục đã nuôi dưỡng được một phong trào cách mạng công khai hợp pháp khá sôi nổi, quyết liệt trong lĩnh vực đấu tranh về văn hoá và tư tưởng theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Đó cũng là cuộc vận động chính trị chuẩn bị về tinh thần, về tư tưởng cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ trong thời đại mới.
Trước hết, Đông Kinh Nghĩa thục đã nâng cao được tinh thần yêu nước, cách mạng ở những nơi có phong trào, lôi cuốn họ vào cuộc đấu tranh cho độc lập, tự dovà dân giào của đất nước.
Đông Kinh Nghĩa thục đã đi đầu và có những thành tựu lớn trong sáng tác văn học phục vụ cuộc đấu tranh của quần chúng, phạm vi hoạt động ngày càng rộng lớn trong nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết yêu nước. Trở thành nguy cơ lớn đối với thực dân Pháp ở Việt Nam.
Tháng 12/1907, trong hoàn cảnh giấy phép hoạt động bị thu hồi. Hai vụ xin xâu chống thuế ở Bắc Kì và đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội liên tiếp nỗ ra trong năm 1908 đã làm cho chúng càng điên cuồn đối phó. Hầu hết các giáo viên của trường đều bị bắt, hội buôn bị giải tán, tờ Đăng cổ tùng báo bị đóng cửa, hoạt động diễn thuyết và nói chuyện bị cấm, tài liệu của nhà trường bị tịch thu. Nhìn chung, phong trào Đông Kinh nghĩa thục chỉ hoạt động được gần 9 tháng nhưng đã tác động không nhỏ đến tình hình xã hội và con người trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Thật sự, nếu nhìn ở phương diện tinh thần dân tộc thì phong trào không hề bị dập tắt, nó chỉ chuyển sang hoạt động ở những hình thức khác, trên những địa bàn khác được kế thừa và phát huy ngày càng phong phú hơn. Đông Kinh nghĩa thục để lại cho chúng ta ngày nay nhiều bài học, kinh nghiệm quý giá khi xây dựng nền giáo dục dân chủ nhân dân tiến lên giáo dục xã hội chủ nghĩa.
Về mặt giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, những bài học cũng có ý nghĩa không nhỏ khi chúng ta hội nhập vào khu vực và thế giới mà phải bảo vệ và phát triển văn hoá dân tộc. Tình hình tiếp nhận một cách xô bồ, không lựa chọn văn hoá nước ngoài, dẫn tới việc “lai căng”, mất gốc, khiến chúng ta phải lo lắng. Tình trạng sử dụng tiếng nước ngoài một cách quá mức cần thiết, làm mất sự trong sáng của tiếng Việt đang lang tràn không chỉ trong giao tiếp đời thường mà cả trên báo chí và nhiều phương tiện truyền thông đại chúng khác. Việc không hứng thú, xa lánh các loại hình văn hoá dân gian, việc tái mù chữ, không hiểu biết về lịch sử dân tộc, có khuynh hướng gia tăng.
Thực trạng này buộc chúng ta phải tìm hiểu mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, tuyên truyền của Đông Kinh nghĩa thục để góp phần vào khắc phục các yếu kém, thiếu sót nêu trên. Một điều cần chú ý là một số ý tưởng của Đông Kinh nghĩa thục đã được Hồ Chí Minh tiếp nhận từ nhỏ và trở thành một trong những cơ sở, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, như các ý tưởng về sức mạnh của lòng yêu nước, chủ nghĩa dân tộc, vai trò, vị trí của giáo dục đối với sự phát triển xã hội… Về sự cần thiết phải biết lịch sử, văn hoá dân tộc, Bác Hồ đã cảnh báo “Coi chừng, có nhiều người Việt Nam lại không hiểu rõ lịch sử đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình bằng người nước ngoài…”. Điều này, ở một mức độ nào đó Đông Kinh nghĩa thục đã nói và làm. Cho nên, tìm hiểu Đông Kinh nghĩa thục nói chung, về việc giáo dục tinh thần dân tộc, lòng yêu nước nói riêng cũng giúp chúng ta hiểu sâu hơn tư tưởng Hồ Chí Minh.
2.2.2. Phan Bội Châu nhà tư tưởng tiêu biểu cho phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX
2.2.2.1. Cuộc đời của Phan Bội Châu
Phan Bội Châu sinh ngày 26/12/1867 tại thôn Sa Nam, xã Đông Liệt, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Cha ông là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận Ngữ, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện. Thuở thiếu thời ông đã sớm có lòng yêu nước.
Năm 17 tuổi, ông viết bài Hịch Bình Tây Thu Bắc đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kỳ khởi nghĩa kháng Pháp.
Năm 19 tuổi (1885), ông cùng bạn là Trần Văn Lương lập đội “Sĩ tử Cần Vương”, mưu toan phối hợp với nghĩa quân Nghê An chống Pháp, nhưng bị đối phương kéo tới khủng bố nên phải giải tán. Thất bại, Phan Bội Châu bắt đầu nghiền ngẫm binh thư thời Xuân thu Chiến quốc, nuôi chí hướng chống Pháp lâu dài. Gia cảnh khó khăn, ông đi dạy học kiếm sống và học thi, nhưng thi suốt 10 năm không đỗ, lại can tội hoài hiệp văn tự (mang văn tự trong áo) nên bị kết án chung thân bất đắc ứng thí (suối đời không được dự thi). Năm 1896, Phan Bội Châu vào Huế dạy học, do mến tài ông nên các quan đã xin vua Thành Thái xóa án. Nhờ vậy, khoa thi hương năm Canh Tý (1900) ở trường Nghệ An và đậu Giải nguyên.
Lập Duy Tân hội, sang Nhật cầu viện
Trong vòng 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, Phan Bội Châu bôn ba khắp nước Việt Nam kết giao với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu La Nguyễn Thành), Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Sĩ Kiện, Lê Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại,...
Năm 1904, ông cùng Nguyễn Hàm và khoảng 20 đồng chí khác thành lập Duy Tân hộiQuảng Nam để đánh đuổi Pháp, chọn Kỳ Ngoại hầu Cường Để- một người thuộc dòng dõi nhà Nguyễn làm hội chủ.
Năm 1905, ông cùng Đặng Tử KínhTăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi sang Nhật Bản, để cầu viện Nhật giúp Duy Tân hội đánh đuổi Pháp. Tại Nhật, ông gặp Lương Khải Siêu, một nhà cách mạng người Trung Quốc, và được khuyên trước tiên phải thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Lại nghe hai nhân vật quan trọng của Đảng Tiến Bộ đang cầm quyền ở Nhật Bản, là Bá tước Ôi Trọng Tín và Thủ tướng Khuyển Dưỡng Nghị khuyên là nên cổ động thanh niên ra nước ngoài học tập để sau này về giúp nước.
Tháng 6/1905, Phan Bội Châu cùng Đặng Tử Kính mang theo một số sách Việt Nam vong quốc sử về nước. Tháng 8/1905 tại Hà Tĩnh, ông và các đồng chí nồng cốt trong Duy Tân hội bàn bạc rồi đưa ra kế hoạch hành động đó là:
·       Nhanh chóng đưa Kỳ Ngoại hầu Cường Để ra nước ngoài.
·       Lập các hội nông, hội buôn, hội học để tập hợp quần chúng và để có tài chánh cho hội.
·       Chọn một số thanh niên thông minh hiếu học, chịu được gian khổ, đưa đi học ở nước ngoài.
Phát động phong trào Đông Du
Trong ba nhiệm vụ trên, thì nhiệm vụ thứ ba hết sức quan trọng và bí mật, nên Duy Tân hội đã cử Phan Bội Châu và Nguyễn Hàm tự định liệu. Sau đó, phong trào Đông Du được hai ông phát động, được đông đảo người dân ở cả ba kỳ tham gia và ủng hộ, nhất là ở Nam Kỳ.
Tháng 10/1905, Phan Bội Châu trở lại Nhật Bản cùng với ba thanh niên, sau đó lại có thêm 45 người nữa. Năm 1906, Cường Để qua Nhật, được bố trí vào học trường Chấn Võ. Kể từ đó cho đến năm 1908, số học sinh sang Nhật Bản du học lên tới khoảng 200 người, sinh hoạt chung trong một tổ chức có quy củ gọi là Cống hiến hội...
Tháng 3/1908, phong trào phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ nổi lên rầm rộ ở Quảng Nam rồi nhanh chóng lan ra các tỉnh khác. Bị thực dân Pháp đưa quân đàn áp, nhiều hội viên trong phong trào Duy Tân và Duy Tân hội bị bắt, trong số đó có Nguyễn Hàm, một yếu nhân của hội.
Mất mát này chưa kịp khắc phục, thì hai phái viên của hội là Hoàng Quang Thanh và Đặng Bỉnh Thành lại bị Pháp đón bắt được khi từ Nhật về Nam Kỳ nhận tiền quyên góp cho phong trào Đông Du. Tiếp theo nữa là Pháp và Nhật vừa ký với nhau một hiệp ước (tháng 9/1908), theo đó chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất các du học sinh người Việt ra khỏi đất Nhật. Tháng 3/1909, Cường Để và Phan Bội Châu cũng bị trục xuất. Đến đây, phong trào Đông Du mà Phan Bội Châu và các thành viên khác đã dày công xây dựng hoàn toàn tan rã, kết thúc một hoạt động quan trọng của hội. Lúc này, ở nhiều nơi trong nước, mọi hoạt động quyên góp tài chính và chuẩn bị vũ trang bạo động của Duy Tân hội cũng bị thực dân cho quân đến đàn áp dữ dội. Những người sống sót sau các đợt khủng bố đều phải nằm im, hoặc vượt biên sang Trung Quốc, Xiêm, Lào để mưu tính kế lâu dài.
Cuối năm 1910, Phan Bội Châu chuyển một đại bộ phận hội viên ở Quảng Đông về xây dựng căn cứ địa ở Xiêm. Tại đây, họ cùng nhau cày cấy, học tập và luyện tập võ nghệ để chuẩn bị cho một kế hoạch phục quốc sau này.
Tháng 6 năm 1912, trong cuộc “Đại hội nghị” tại từ đường nhà Lưu Vĩnh PhúcQuảng Đông, có đông đủ đại biểu khắp ba kỳ đã quyết định giải tán Duy Tân hội và thành lập Việt Nam Quang phục Hội, tức thay đổi tôn chỉ từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ để đánh đuổi quân Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc kiến lập Việt Nam, đáp ứng tình hình chuyển biến mới trên trường quốc tế.
Hoạt động ở Trung Quốc
Mặc dù thay đổi tôn chỉ, nhưng Phan Bội Châu vẫn duy trì Kỳ Ngoại hầu Cường Để trong vai trò chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam Quang phục Hội, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước. Sau đó, Việt Nam Quang phục Hội cử một số hội viên về nước để trừ khử một vài viên chức Pháp và cộng sự đắc lực của họ, nhằm “đánh thức đồng bào”, “kêu gọi hồn nước”. Các cuộc bạo động bằng tạc đạn tuy xảy ra lẻ tẻ, nhưng vẫn khuấy động được dư luận trong và ngoài nước, làm nhà cầm quyền Pháp tăng cường khủng bố, khiến nhiều người bị bắt và bị giết. Bị kết tội chủ mưu, Phan Bội Châu và Cường Để bị thực dân Pháp cùng với Nam triều kết án tử hình vắng mặt.
Năm 1913, thực dân Pháp cử người đến Quảng Đông “mặc cả” với Tổng đốc Long Tế Quang yêu cầu bắt Phan Bội Châu và các yếu nhân của hội. Ngày 24/12/1913, Phan Bội Châu bị bắt. Nhưng nhờ Nguyễn Thượng Hiền lúc bấy giờ đang ở Bắc Kinh vận động, nên Long Tế Quang không thể giao nộp ông cho Pháp, mà chỉ đưa giam vào nhà tù Quảng Đông, mãi đến tháng 2/1917, ông mới được giải thoát.
Ra tù, Phan Bội Châu lại tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1922, phỏng theo Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn, ông cải tổ Việt Nam Quang phục Hội thành Đảng Việt Nam Quốc dân.
Bị Pháp bắt và an trí
Ngày 30/6/1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải giải về nước xử án tù chung thân, mặc dù trước đó ông đã bị đối phương kết án vắng mặt. Trước phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đòi thả Phan Bội Châu, và nhờ sự can thiệp của Toàn quyền Varenne, ông được về an trí tại Bến Ngự (Huế). Trong 15 năm cuối đời, ông già Bến Ngự vẫn giữ trọn phẩm cách cao khiết, không ngừng tuyên truyền tinh thần yêu nước bằng văn thơ, nên rất được nhân dân yếu mến.
Phan Bội Châu mất ngày 29/12/1940 tại Huế. Hiện tên ông đã được đặt cho trường chuyên của tỉnh Nghệ An và một con phố lớn tại Hà Nội.
2.2.2.2. Những tư tưởng canh tân của Phan Bội Châu
Phan Bội Châu với nhiệm vụ cách mạng Việt Nam
Sau thất bại của kế hoạch cướp thành Nghệ An năm 1901 cho thấy sự giới hạn của một không gian chật hẹp của một địa phương, trong đợi vào các dư đảng, các hảo hán hoặc triều đình và quan lại là không xong. Ông tiến hành cuộc chu du trong cả nước từ năm 1902 để tìm đồng chí và lập hội cứu nguy cho đất nước. Ông ra Bắc tiếp xúc với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, về Nghệ An gặp Tổng đốc Đào Tấn.. Từ giữa 1903, Phan đi Nam Kì khắp các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long để tìm đồng chí. Đến tháng 4/1904 ra Quãng Nam gặp Tiểu La Nguyễn Thành. Tại cuộc gặp này, với sự có mặt của Cường Để cùng bàn kế hoạch hành động, gồm 3 điểm:
·     Thứ nhất, tính kế mở rộng lực lượng của hội, nhanh chống chiêu tập rộng rãi hội viên, thu thập kinh phí cho hội.
·     Thứ hai, tính kế tiếp tục tiến hành bạo động sau khi tiến hành bạo động. Nhanh chống trù định các loại tài liệu, những vủ khí cần thiết cho bạo động.
·     Thứ ba, xác định phương châm ra  nước ngoài cầu viện và phương thức làm việc đó. Trong đó, hai điểm đầu thì toàn bộ hội viên đảm đương, còn điểm sau thì Tiểu La và Sào Nam bí mật chuẩn bị, tuyệt đối giữ nghiêm bí mật.
Sau chuyến đi nước ngoài đầu tiên đã khiến Phan Bội Châu mở rộng tầm mắt, không còn bó hẹp trong hoạt động bạo động đơn thuần. Ông nhận thấy muốn mở rộng cuộc vận động cách mạng phải chấn hưng kinh tế, xuất bản sách báo, lập các đoàn thể để nâng cao lòng yêu nước câm thù giặc, trình độ văn hoá và chính trị trong nhân dân. Đồng thiới phải nhận được sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ và phong trào cách mạng thế giới. 
Phan Bội Châu với lực lượng cách mạng
Tuy có ý đồ triển khai tổ chức trên phạm vi cả nước nhưng trên thực tế chưa phá vở được giới hạn khu vực vẫn nằm trong xứ Nghê và xứ Quãng. Sau khi Phan xuất dương và bắt đầu triển khai phong trào tại Nhật vào năm 1905 thì tổ chức mới đạt tới qui mô bao trùm toàn bộ ba kì và được phát triển mạnh ở Nam Kì. Với kết quả này, sự vận động của Phan taị Nhật đã được 200 thanh niên ở khắp ba kì Việt Nam sang du học tại Nhật ( trong đó có khoảng 100 người Nam Kì, hơn 50 người Trung Kì, và hơn 40 người Bắc Kì), đa số du học sinh là con cháu của sỉ phu. Có 3 thiếu nhi dưới 10 tuổi người Nam Kì tên là Trần Văn An, Trần Văn Thư, và Trần Vỹ Hùng. Thực hiện mục tiêu của phong trào từ việc xin ngoại viện về quân sự, chuyển sang việc giúp đỡ mở mang dân trí, đào tạo người tài phục vụ cho sự nghiệp chống thực dân Pháp, giải phóng đất nước.
Phan Bội Châu với việc tổ chức phong trào cách mạng
Chương trình nhằm đào tạo những người có trình độ văn hoá và quân sự cần thiết cho công cuộc cứu nước về sau. Để thuận tiện cho cho việc quản lí học sinh, cũng như hoạt động của hội, Phan Bội Châu tổ chức Việt Nam công hiến hội trực tiếp chỉ đạo tổ chức này. Cơ cấu tổ chức chia làm 4 bộ lớn: Bộ kinh tế chuyên trách việc thu chi; Bộ kỉ luật chuyên theo dõi ưu, khuyết điểm và thưởng phạt học sinh; Bộ giao tế phụ trách việc giao thiệp với người nước ngoài và đưa đoán người trong nước ra; Bộ văn thư chuyên trách việc giấy tờ đi lại và phát hành, lưu trữ các văn kiện. Ngoài ra còn có Cục Kiểm tra để giám sát nhân viên các bộ trong khi thừa hành nghiệp vụ.
2.2.2.3. Những đánh giá về tư tưởng canh tân của Phan Bội Châu
Trong sự nghiệp và cống hiến cho lịch sử dân tộc Việt Nam của phong trào Đông Du tuy ngắn ngủi nhưng rất có ý nghĩa, trong đó có công lao của Phan Bội Châu giữ vai trò quyết định của một hội chủ. Mặc dù không giành được thắng lợi, nhưng đường lối bạo động cách mạng đó đã phát động mạnh mẽ tinh thần yêu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân Việt. Đó cũng là cống hiến lớn lao của Phan Bội Châu và các tổ chức của ông.
Trước hết, cần phải thấy tác động của phong trào Đông Du đến bước phát triển mới của phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cuộc vận động cứu nước của Duy Tân hội đã tạo nên một không khí cách mạng sôi nổi trên phạm vi cả nước. Cùng thời gian, dưới ảnh hưởng của phong trào xuất dương cầu học thì ở trong nước cũng dấy lên rầm rộ phong trào mở trường học theo lối mới. Thêm nữa, phong trào xuất dương cầu học không chỉ tác động về mặt văn hóa mà cả về mặt kinh tế. Chính trong thời kỳ này các hội buôn, các công ty thương nghiệp nối tiếp nhau ra đời ở các thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn và một số tỉnh trong Nam ngoài Bắc và miền Trung.
Trong phong trào Đông Du, có thể khẳng định đây là hoạt động đầu tiên chống chủ nghĩa thực dân trên nền tảng duy tân đổi mới. Đây là một cuộc đổi mới về tư duy yêu nước, từ tư duy yêu nước truyền thống bạo động cầm vũ khí khởi nghĩa để khôi phục độc lập dân tộc chuyển sang tư duy cải cách, đổi mới, đề cao việc cầu học tiến bộ, học cái mới, tiên tiến để vận dụng vào sự nghiệp cứu nước. Phong trào Đông Du xuất dương cầu học là một hành động có tính “đột phá”, mở cửa hướng ra ngoài để học hỏi, tiếp nhận những cái mới có lợi và cần thiết cho phong trào giải phóng dân tộc. Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng đã cắm mốc cho thời kỳ đầu tiên nhân dân Việt Nam mở rộng hoạt động ra bên ngoài, trên khu vực các nước láng giềng, chủ yếu tại Nhật Bản.
Phong trào này còn là phong trào đấu tranh yêu nước cuối cùng trước khi xuất hiện sự phân hóa đường lối chính trị trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam. Cùng với sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của chính sách khai thác bóc lột kinh tế của chủ nghĩa đế quốc Pháp đối với nhân dân ta. Phong trào Đông Du xét về mặt phong trào đã giữ vị trí chuyển tiếp giữa phong trào cách mạng kiểu cũ sang phong trào cách mạng kiểu mới, đứng về mặt con người đã giữ vai trò chuyển giao thế hệ, vừa kết thúc một thời kỳ cũ lại vừa mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử yêu nước cách mạng nước ta, thời đại Hồ Chí Minh.
Phương pháp đấu tranh hòa bình có ưu điểm là không gây ra tổn thất về tính mạng và vật chất của nhân dân, làm cho nhân dân thức tỉnh, vươn lên làm cách mạng; tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này không cao và không triệt để, bởi bản chất của chủ nghĩa thực dân là dùng bạo lực phản cách mạng để xâm lược, áp bức các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động. Còn phương pháp cách mạng bạo động, về cơ bản, phù hợp với công cuộc đấu tranh giành độc lập, song cần phải có thời gian chuẩn bị, không thể nóng vội. Có thể nói, quan điểm của Phan Bội Châu là đúng trong chiến lược, còn quan điểm của Phan Châu Trinh thì đã đáp ứng được yêu cầu thực tế của xã hội lúc bấy giờ.
 Lúc đầu sang Nhật là tìm ngoại viện về quân sự, nhưng khi yêu cầu đó không thực hiện được vì lối ngoại giao của Nhật Bản đối với Pháp lúc đó là thỏa hiệp, nhân nhượng thì Phan Bội Châu đã linh hoạt chuyển sang tranh thủ học tập tri thức mới, duy tân cải cách theo lối mới của các nước phương Tây để mở ra con đường cách mạng theo hướng phát triển tự lực, tự cường, như vậy là đã từ “cầu viện” chuyển sang “cầu học”. Đối với các sĩ phu “tân tiến” đầu thế kỷ XX của nước ta thì “duy tân” và “bạo động” không đối kháng nhau, là hai biện pháp để đạt mục tiêu chung là độc lập dân tộc, suy cho đến cùng thì “duy tân” là sự chuẩn bị tích cực để tiến tới bạo động. Chính vì lẽ đó mà không thể đối lập cụ Phan Bội Châu với cụ Phan Châu Trinh, giữa hai cụ Phan không khác nhau ở động cơ đầu tiên hay mục đích cuối cùng mà chỉ khác nhau về biện pháp thực hiện để đạt tới mục tiêu giải phóng dân tộc.
2.2.3. Phan Châu Trinh nhà tư tưởng tiêu biểu cho phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20
 2.2.3.1. Cuộc đời của Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh sinh năm Nhâm Tuất (1872) niên hiệu Tự Ðức 26, tự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã, quê ở xã Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quãng Nam. Thân phụ ông là Phan Văn Bình, tích cực chiến đấu trong phong trào Cần Vương. Thân mẫu là Lê Thị Chung, con một nhà thế gia vọng tộc tại làng Phủ Lâm rất tinh thông Hán học và có nhiều đức hạnh. Thuở thiếu thời Phan Châu Trinh chẳng may mẹ mất sớm, vì cha phải bận với võ nghiệp, ít săn sóc đến việc học hành hành nên mãi đến năm lên 10, Phan Châu Trinh mới được vào trường học tập. Năm 1885 kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải chạy trốn ra Quãng Trị. Các đạo Cần Vương kháng Pháp nổi lên khắp các nơi.
Năm 1887, vì nghi kỵ, thân phụ Phan Châu Trinh bị hại, việc học tập võ nghệ của ông bị gián đoạn. Nhờ người anh cả rước thầy về cho ông tiếp tục học nghề văn. Vì nhận thấy muốn có uy tín để thực hiện chí lớn trong việc cách mạng để giành lại chủ quyền của đất nước, nên ông đổi sang học nghề nghiên bút, chớ thực ra ông không bao giờ thích cái lối học hư văn. Theo học bốn năm ở nhà, Phan Châu Trinh tỏ ra thông minh tuyệt vời, ông thường có những lý luận sâu sắc, những nhận xét tinh vi.
Năm 1889, theo thụ nghiệp với vị Ðốc học Trần Mã Sơn, Phan Châu Trinh được bổ vào ngạch học sinh. Năm 1900, trong kỳ thi Hương, Phan Châu Trinh thi đỗ Cử Nhân, và qua năm sau 1901, ông đỗ Phó Bảng, ông được bổ làm Thừa Biện ở Huế, ít lâu sau, người anh cả của ông mất, ông xin về quê dạy học. Năm 1903, ông được bổ làm Thừa Biện Bộ Lễ. Trong thời gian từ 1902- 1905, Phan Châu Trinh có dịp học những tác phẩm có tư tưởng cách mạng của Jean- Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire ... Càng tiếp xúc nhiều với các quan trường, Phan Châu Trinh càng thấy rõ cảnh thối nát, hủ bại trên đường cử nghiệp.
Lúc bấy giờ lực lượng Cần Vương lần lần tan rã, thực dân Pháp bắt đầu đặt nền thống trị trên đất nước Việt Nam. Trước cảnh đó, nhận thấy sự bất lực và thối nát của triều đình Huế, Phan Châu Trinh xin từ quan và bắt đầu hoạt động chính trị với các ông Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… Sau khi từ quan về hoạt động chính trị, Phan Châu Trinh đã cùng với hai bạn đồng khoa là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng vào Nam vận động đồng bào các giới. Tới Phan Thiết, Phan Châu Trinh bị bệnh phải quay trở về Huế. Sau mấy tháng dưỡng bệnh, ông ra Bắc tìm cách lên Yên Thế để gặp Hoàng Hoa Thám, nhưng chính sách bạo động của Hoàng Hoa Thám không thích hợp với chủ trương của ông, nên ông lại xuống Trung Châu Bắc Việt vận động với nhóm nho sĩ Bắc Hà. Phan Châu Trinh tán thành phong trào xuất dương du học do Phan Bội Châu khởi xướng. Ðể được quan sát tại chỗ sự tiến triển của các nước, Phan Châu Trinh liền trốn sang Trung Hoa. Ông gặp Phan Bội Châu tại Hương Cảng rồi hai ông cùng sang Nhật. Ở đó được 10 tháng, ông lên đường về nước (năm 1906). Phan Châu Trinh quyết đứng ra tranh đấu công khai với chính quyền bảo hộ Pháp. Ngày 15 tháng 8 năm Bính Ngọ (1906) , ông gởi lên Toàn Quyền Pháp ở Ðông Dương một bức thư dài 12 trang. Bức thơ của Phan Châu Trinh đã có ảnh hưởng rộng lớn trong dân chúng. Ông bắt đầu hoạt động mạnh, hô hào tổ chức nhiều buổi diễn thuyết tại trường Ðông Kinh Nghĩa Thục. Thực dân Pháp để ý căm thù và tìm cách hãm hại ông. Nhưng Phan Châu Trinh vẫn không màng đến, ông đứng ra lãnh đạo phong trào duy tân, khuyến khích đồng bào mở trường dạy học, lập các hội buôn như Ðông Kinh Nghĩa Thục. Phan Châu Trinh lại hô hào thanh niên vận Âu phục, cắt tóc ngắn, ủng hộ các sản phẩm và hàng nội hóa để giúp cho nền kinh tế trong nước được dồi dào. Năm 1908, tại tỉnh Quãng Nam phong trào kháng thuế nổi lên mạnh mẽ lan rộng các tỉnh miền Trung Việt. Ðầu mùa xuân năm 1908, thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa Ðông Kinh Nghĩa Thục, nhiều người bị bắt, riêng Phan Châu Trinh bị bắt đem về giam tại tòa Khâm Sứ. Ðể phản đối hành động khủng bố của thực dân, Phan Châu Trinh tuyệt thực trong bảy ngày. Nhận thấy tình thế khó xử, viên Khâm Sứ Pháp phải giao trả ông về Cơ Mật Viện của tòa án Nam Triều, ông bị bọn quan lại kết án tử hình. Nhờ có hội Nhân Quyền can thiệp với chánh phủ Pháp. Chính quyền bảo hộ phải điều đình với Nam Triều đổi bản án “tử hình” ra “Côn lôn ngộ xá bất nguyên”. Bỏ giam ở nhà lao Phủ Thừa được ít lâu, Phan Châu Trinh bị đày đi Côn đảo.
Mặc dù đã được ân xá, nhưng ông cũng bị thực dân Pháp tìm cách giữ mãi tại Mỹ Tho, ông phản kháng cương quyết đòi trở về Côn Ðảo. Chính phủ Pháp đành phải để ông tự do. Vì muốn tranh đấu có hiệu quả trong việc cải cách nền chính trị nước nhà và đồng thời để được học hỏi thêm, năm 1911, Phan Châu Trinh đã sang Pháp hoạt động.
Tại Ba Lê, ông làm nghề rửa ảnh để sinh sống. Dù cho phải sống xa quê hương, ông vẫn không ngừng hoạt động tranh đấu cho đất nước. Ông viết báo phản đối việc đào lăng Tự Ðức, yêu cầu chính phủ Pháp nên cấp tốc thay đổi chính sách thuộc địa, giáo dục tinh thần tranh đấu của Việt kiều tại Pháp. Ông tìm cách liên kết với các lãnh tụ thuộc đảng cấp tiến ở Pháp. Dù phải sống trong cảnh đói rét, khốn khổ đủ mọi bề, Phan Châu Trinh vẫn cương quyết tranh đấu cho lý tưởng cao cả.
Tiếc thay đại cuộc chưa thành, bệnh tình của Phan Châu Trinh mỗi ngày một thêm trầm trọng . Ngày 24/3/1926 (nhằm ngày 12 tháng 2 năm Bính Dần) nhà cách mạng ái quốc Phan Châu Trinh đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ được 55 tuổi. Một Hội đồng trị sự được thành lập ngay đêm đó để lo việc an táng cho ông ngày 4/4/1926 khắp từ Nam chí Bắc đều tự động làm lễ bãi khóa và làm lễ quốc táng nhà chí sĩ Phan Châu Trinh rất trọng thể để chứng tỏ tấm lòng ngưỡng mộ và mến tiếc nhà cách mạng đã suốt đời vì dân vì nước.
2.2.3.2. Cuộc vận động cải cách về văn hóa hay là đường lối “khai dân trí”
Bỏ lối học tầm chương trích cũ, mở trường dạy học chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục, xa hoa, tuyên truyền lối sống tiết kiệm, văn minh.
Từ khi chữ Quốc ngữ được giới tri thức hồi đó xem như một thứ “hồn trong nước” thì vai trò tác dụng của nó có ảnh hưởng rất lớn trong sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật nước nhà. Đây là một mảng lớn trong tiến trình văn học nghệ thuật, văn hóa học mà lâu nay giới nghiên cứu Việt Nam đã bỏ qua. Sự ra đời và lớn mạnh của chữ Quốc ngữ là cội rễ chính để bộ môn tiểu thuyết, thơ ca, báo chí phát triển. Theo hoài bảo đó những năm đầu thế kỷ XX, thì những nhà nho yêu nước như: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đã vận dụng nó vào tiến trình tân văn học để vận động phát triển phong trào Duy Tân về một diện rộng hơn.
Văn hóa, cuộc vận động này nhằm làm một cuộc cách mạng để xây dựng nền móng dân chủ, dân quyền ở Việt Nam, tạo cho đất nước có một mẫu người có ý thức mới, một tập thể quần chúng có ý thức về quyền dân. Chủ trương chính của phong trào Duy Tân là phế Hán học, đề cao chức năng chữ Quốc ngữ trong quản đại quần chúng.
Khi ba Ông đậu ở các kỳ thi, được triều đình bổ nhiệm làm quan nhưng cả ba điều từ chối, cả ba cùng đi Nam du phát động và thực hành Duy Tân tự cường. Làm thơ chống đối chế độ. Đây là một hiện tượng vô cùng táo bạo và mới lạ trong việc bài xích khoa cử, phản kháng chế độ. Việc đó vừa là thái độ thách đố nhà cầm quyền, vừa là tiếng sét nổ tung bầu trời vấn đục vì cái học từ chương làm cho nhiều nhân tài mai một. Đây quả là một sự kiện hiếm có mà các nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân vận dụng môi trường thi cử và khả năng văn tự để mạt sát khoa cử, cổ động tân học bằng một phương pháp trực tiếp. Hiện tượng này đã tạo một tiếng vang lớn trong hàng ngũ tri thức từ lâu chỉ biết hụp lặn trên con đường thi phú, quên cả sứ mạng cao cả của mình.
Các Ông vừa tấn công khoa cử, học trò nhà nho, quan lại bằng con đường trực tiếp theo con mắt tri thức, lại còn dùng nó để nhắm đến một đối tượng rộng lớn hơn là quần chúng. Vì vậy, trong dân gian người nào cũng biết được cái hư hèn, hủ lậu làm cho dân tộc đứng lì một chỗ, rồi rơi vào con đường bại vong. Bài xích khoa cử, chống đối Hán học, phần sai lầm nhưng không phải bài xích, chống đối tất cả, hoặc chối bỏ cái tinh túy của Hán học. Ở đây ba vị này, không quá cuồng nhiệt, không vứt bỏ tất cả, mà chủ trương tiếp thu cái mới, cái hay và chấn hưng, phát huy tinh hoa tất cổ học, nhất là đề cao chức năng chữ Quốc ngữ. Các ông quan niệm chữ Quốc ngữ ấy chính là hồn thiêng đất nước, là tinh hoa dân tộc. Nó là kho tân văn hóa hiện hữu của dân tộc. Có nó xã hội sẽ tiến bộ hơn dưới ánh sáng mặt trời giữa thế kỷ XX. Nó sẽ là một thứ khí giới sắc bén giúp con người biết được cái hư hèn của mình, thấy được cái hay, mới mẻ của người mà học theo. Có như vậy, dân chúng sẽ trở nên lớp người tiến bộ hơn.
Trong Văn minh tân học sách có nói: “cái dốt” chính là chướng ngại lớn nhất và hệ bậc nhất trong việc nhận thức của con người. Thực vậy, tai họa của cái dốt thật nguy hiểm, do đó chúng ta phải có phương pháp chữa cái dốt, dù cho kẻ đó là những bậc hiền tài, hào kiệt thì càng phải hy sinh tất cả để lo đuổi cái dốt, mà phát huy chân lý cho đời. Muốn làm được điều đó thì trước tiên phải có người “giảng” thì người học mới mong tiếp thu được những tinh hoa do việc học đem lại, và phải “giảng’ thì việc tiếp thu mới nhanh chóng. Thấy được nguyên nhân căn bệnh rồi mới viết thành toa để trị bệnh. Hiểu được bệnh nhân, viết được toa thuốc tức là giải quyết mọi vấn đề yếu tính của việc học.
Với ý niệm trên các nhà lãnh đạo đã vạch một ý hướng về việc giáo dục con người, mong giải phóng tinh thần để họ thoát khỏi cảnh trói buộc khi người dân sống trong cảnh vong quốc. Điều đó đã được thấy rõ trong phương pháp giáo dục quần chúng Việt Nam trong suốt thời kỳ phong trào Duy Tân phát triển cho đến ngày chính sách thực dân cáo chung trên đất nước.
  2.2.3.3. Cuộc vận động cải cách về tử tưởng hay là vấn đề “chấn dân khí”
Một nỗi lo rất lớn của các sĩ phu yêu nước tiến bộ thế kỷ XX đã nhận ra rằng chẳng những dân trí “ngu” mà dân trí lại “hèn”. Hai chữ “ngu” và “hèn” nặng nề, song chắc các cụ cũng chỉ nhằm kích động tinh thần dân tộc.
Dân trí ngu? Là chỉ những người có học chỉ biết quanh xó bếp, chẳng biết năm châu bốn biển là gì, không hiểu gì chuyện nước nhà mình, chỉ biết làm thơ, làm phú mà không biết một nghề thực dụng, công thương kỷ xảo, không nắm được khoa học công nghệ, tư tưởng cận đại thế giới. Ngu như thế thì trong cạnh tranh sinh tồn, phần lép, phần thua, phần chết tất nhiên là thuộc về ta rồi. Muốn khắc phục tình trạng này thì phải khai dân trí,  muốn dân trí thì trước hết phải thực hiện đường lối tân học văn minh.
Dân khí hèn? Thời kỳ này không biết bao nhiêu bài văn bài trình thuyết, các cụ đã bài tỏ ý “tủi thương” cho dân tộc ta “xưa kia không thiếu anh hùng, dọc ngang trời đất vẫy vùng non sông” mà ngày nay anh hùng hiếm hoi quá.
Trong văn chương của những năm đầu thế kỷ XX, khái niệm “hồn nước” và ý thức “gọi hồn” rất là phổ biến và lúc nào cũng được hoan nghênh. Song gọi “hồn nước” là một nhu cầu khách quan của thời cuộc chính trị xã hội Việt Nam, các nhà yêu nước nhận thấy cái bệnh “chết lòng” phổ biến, nhận thấy dân ta, nước ta giống như cái xác không hồn, còn hơi thở thì thoi thớp mà không có ý thức bản thân, tuy còn sống mà ngơ ngơ ngác ngác. Trong nhân dân thì có sự mê tín ngu hèn dốt nát, hỡi thấy có người sắp tắt thở hay mê sản thì liền mời thầy bà về cúng để gọi hồn. Tựa như thế, các sĩ phu dùng văn chương gọi “hồn nước” là muốn thức tỉnh Quốc dân, đem khí phách Việt Nam trở về đồng bào mình, muốn ai nấy đều quan tâm đến vận mệnh của xứ sở, không thờ ơ, không tan tác, không sợ chết, dám đấu tranh cho nghĩa lớn dân tộc.
Hồn nước là gì? Là ý thức dân tộc tự cường, độc lập, tự chủ. Ý thức hệ dân tộc là khái niệm hệ chính trị mà hồn nước là khái niệm văn chương, cả hai cùng một nội dung cơ bản. Vào đầu thế kỷ XX, quốc hồn, hồn nước là khái niệm trọng yếu của tư tưởng và tình cảm Việt Nam, làm tinh túy, làm cọi gốc cho dân trí và dân khí, bao hàm một nội dung phong phú làm cho văn chương yêu nước của các cụ đạt mức hùng biện và trữ tình.
Trước nhất, “gọi hồn nước” trước hết là gợi lòng yêu mến non sông và tự hào dân tộc, đánh bại tư tưởng thờ ơ và tư tưởng tự trị. Đầu thế kỷ XX thì chữ ái quốc không còn phù hợp nữa mà thay vào đó là khái niệm về “tổ quốc”, “đồng bào”…Lúc này không còn chữ “cần vương”, mà là chữ “cách mạng”. Lúc này uy quyền của nhà vua không còn nữa mà nhân dân thì lại được đề cao. Vậy “hồn nước” không phải gì khác hơn là ý thức của dân tộc. Trước kia không phải người Việt không có ý thức dân tộc. Nhưng nước lúc này như nước không hồn, dân hãy còn tranh nhau quyền lợi nhỏ nhen ở làng xóm mà không biết đến nước; dân tộc ta đa số nhân dân rời rạc, không có, hay đánh mất ý thức về mình, về đất nước mình, về danh dự mình. Gọi hồn nước tức là  đấu tranh chống những cái tệ kia, là phá vỡ cái vô thức kia, là làm cho dân tộc lại có ý thức dân tộc, không phải dân tộc “tự mình” mà là dân tộc “vì mình”.
Hồn về nước, tức là đồng bào thức tỉnh chính trị, có ý thức giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân. Đầu thế kỷ XX, để gọi hồn nước, các sĩ phu hết sức chú ý đến việc gợi cho mình biết hết tất cả những khả năng kinh tế của xứ sở mình và từ đó làm cho đồng bào thấy rằng nước mình đủ rộng lớn, giàu có, đông dân để tự cường tự chủ được, không có lý do gì để làm nô lệ cả. Cho nên các cụ đã đưa địa lý Việt Nam vào trong việc giảng dạy, và khoa địa lý đột nhiên trở thành môi trường hoạt động của thơ ca yêu nước, đồng thời các cụ cũng liệt kê một số tài nguyên khoáng sản trên rừng, dưới biển, ngoài mặt ruộng, trong lòng đất…Thuở đó, kiến thức của người viết sách địa lý cũng như của thầy dạy địa lý đều thực không phải nhiều, nhưng tư tưởng yêu nước cao cho nên môn khoa học địa lý trở thành một yếu tố chiêu hồn nước rất đắc lực.
Sĩ phu sau thế kỷ XX càng chú ý dùng lịch sử Việt Nam làm cách hay nhất để truyền bá tư tưởng yêu nước, gọi quốc hồn, chấn dân khí, lịch sử dân tộc là một kho sức mạnh tinh thần vô tận, có sức giúp ta đánh đuổi tư tưởng tự ty, phục tùng vong bản. Yêu nước là tự hào với lịch sử tổ tiên, tự hào với dân tộc mình, là nhận thức rõ người mình không ngu hèn thấp kém hơn ai, nhất là đối với kẻ xâm lược.
Không có lúc nào như lúc này Quốc sử được nhắc nhở nhiều đến thế, các anh hùng liệt sĩ được làm sống lại để góp phần chấn hưng dân khí. Đông Kinh nghĩa thục liên tiếp phát hành những quyển Nam quốc giai sự, Nam quốc vĩ nhân, Quốc sử giáo khoa,..tất cả đều ngắn gọn, không có lý luận cao xa, không có nghiên cứu khoa học, nhưng đặc điểm chung của những cuốn sách này là thể hiện tinh thần yêu nước. Học quốc sử bấy giờ được xem là nghĩa vụ, nghĩa vụ thứ nhất trong việc khai dân trí, chấn dân khí.
Thứ hai, giáo dục tình yêu thương giữa đồng bào Việt Nam với nhau; hô hào sự đoàn kết nhất trí nhằm mục đích quang phục.
Gọi hồn nước, trước hết lấy chữ ‘đồng bào” mà khuyên nhau. Chữ “đồng bào” lúc này có ý nghiã thiêng liêng và ở trên cửa miệng của bất kỳ người Việt Nam nào nói “quốc sự”, nói chuyện chính trị yêu nước. Nó cũng có giá trị lớn khi chính sách cai trị lớn của thực dân là chia để trị, chia rẻ dân tộc, tôn giáo…Để đối phó lại các sĩ phu yêu nước nêu cao lên một chữ “đồng”: đồng bào, đồng chủng, đồng tâm.
Mục đích xa phải đạt lúc ấy là giải phóng dân tộc, mục đích gần là đoàn kết dân tộc, cái này là điều kiện cái kia. Chưa ai biết giai cấp là gì, chưa ai nghĩ tới cách mạng xã hội; đó là lẽ tất nhiên của thời cuộc là sự hạn chế của thời cuộc, cho nên gọi hồn nước các sĩ phu tìm ở “giống nòi” một thứ keo sơn sẵn có, hiệu lực cổ truyền để kết chặt tâm trí của mọi người nhằm tạo ra một sức mạnh đáng kể.
Đồng bào, đồng chủng là ý chính của đồng tâm. Theo các Cụ, tình yêu nhau giữa người nước, ai nấy sống chết có nhau, dải đồng tâm ấy là nguồn gốc của mọi sức mạnh, mọi thành công. Cái lý của sự đồng tâm là đồng bào, đồng chủng, của 25 triệu người Việt Nam đều là con cháu Lạc Hồng, cùng tổ tiên, cùng huyết thống. Nhưng cái ý thức về nòi giống chung, tổ tiên chung đã sẵn có nhiều ngàn năm rồi trong nhân dân Việt Nam, nhiều ngàn năm rồi hễ khi nào chống ngoại xâm thì người Việt bao giờ cũng lục lại kho vũ khí tư tưởng ấy củng hiệu nghiệm, thì trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập là sự nghiệp và danh dự của tổ tiên. Nó chỉ là hẹp hòi khi chúng ta dùng để đánh những dân tộc nhỏ bé hơn ta nhưng khi dùng để cho dân tộc ta có ý thức rõ về nguồn cội, về lịch sử, về bản chất của chính mình, để nổ lực hoàn thành nhiệm cụ cách mạng, đồng tâm vẫn là tư tưởng tiến bộ, vũ khí sắc bén của cách mạng. Bởi thế những người yêu bản thân thì tất yêu đồng bào, mà đã rất yêu đồng bào thì tất yếu phải yêu quốc gia, mà đã thật sự yêu quốc gia thì tất nhiên dùng hết sưc lực của mình hy sinh vì quốc gia mà bỏ hết tư lợi, đem hết sức mình để bảo vệ Tổ quốc, Nghĩa đồng bào thực là nguyên khí của quốc gia. Đó là một cách đặc sắc để giải quyết mối tương quan, giữa cá nhân và toàn thể, để chống tư tưởng ích kỷ, chống cá nhân chủ nghĩa, để hô hào mỗi người dân hãy dám vì nước nhà mà hy sinh lợi ích riêng và ngay cả bản thân mình.
Thứ ba, giáo dục lòng căm thù giặc và khinh bỉ bọn tay sai bước đầu tìm hiểu thực chất của chủ nghĩa thực dân.
Việc giáo dục tư tưởng yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần đoàn kết không thể tách rời việc phát động lòng căm và khinh bỉ bọn tay sai. Kẻ xâm lược đã chiến thắng suốt từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta chúng đã tiến hành bóc lột nhân dân ta trên tất cả các mặt. Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta điều bị thất bại. Các sĩ phu yêu nước ra sức đánh bại tâm lý sợ địch, đánh tan mọi tham vọng khai hóa của chủ nghĩa thực dân. Bởi vậy cho nên nhiệm vụ rất cần thiết bây giờ là phải phơi bày bản chất của chủ nghĩa thực dân là một con đĩa hai vòi. Bản chất của chủ nghĩa thực dân được Phan Châu Trinh vạch rọc bằng hai chữ: dương bác, âm toan. Đó là thứ dân bóc lột bằng đánh thuế, bằng mướn công. Thực dân lại khinh rẻ dân ta như khinh rẻ súc vật.
Vậy không thể trông thực dân Pháp khai hóa, sự thật nó khoét đẻo thẳng tay. Càng không thể đề huề với Pháp, sự thật nó xem ta như trâu ngựa. Chính sách thực dân rốt cùng nhằm tiêu diệt chủng tộc của ta chớ không phải dạy dỗ dìu dắt chúng ta.
Chương III. Những nhận định và đánh giá về phong trào Duy tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Một thế kỉ trôi qua tính từ các phong trào yêu nước nổi tiếng ra đời trên đất Quãng và các tĩnh miền Trung và cả miền Nam- cuộc Minh Tân, do các sĩ phu tổ chức, lãnh đạo như: Nghĩa hội Cần vương, phong trào Duy Tân, Duy Tân hội- Đông du, mỗi phong trào có mục tiêu riêng, phương thức hoạt động riêng nhưng đều có cùng mục đích là giải phóng dân tộc thoát khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân. Các phong trào ấy tuy không thành công, bị đàn áp dập tắt nhưng chính chúng đã tạo tiền đề thắng lợi cho cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Phong trào Duy Tân nhìn tổng thể thì được tổ chức với hai hình thức bí mật và công khai. Một mặt vừa truyền bá những sách báo vận động công cuộc duy tân nước nhà theo khuynh hướng dân chủ tư sản, đưa học sinh du học nước ngoài. Mặt khác, tổ chức hoạt động trong nước, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế, thực hiện nếp sống mới.
Có thể nói rằng phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân chủ do những sĩ phu tri thức lãnh đạo, không phải phát sinh dựa trên cơ sở kinh tế xã hội có tính chất dân tộc nảy nở, mà chính là do tinh thần độc lập dân tộc, cơ sở văn hóa dân tộc trước sự phá sản của chế độ phong kiến trong nước. Cho nên nội dung của những phong trào này là biểu hiện sự mâu thuẩn giữa đế quốc với phong kiến; hoặc giữa đế quốc với nền kinh tế tư sản trong nước, vì nó chưa hoàn thành, mà nội dung cốt lỗi là biểu hiện mâu thuẩn giữa tinh thần dân tộc với chế độ đế quốc cướp nước, giữa áp bức bóc lột của tư bản đế quốc với nhân dân lao động.
Với đường lối cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh với những đường lối và chủ trương khác nhau nhưng thực ra đây chỉ là hai biện pháp thực hành cách mạng của hai Ông. Phan Châu Trinh chủ yếu tin vào khả năng hoạt động hợp pháp, cộng tác với các nhà cầm quyền ở đương thời, tức là chính quyền Pháp, để đi tới thay đổi tình hình bằng một loạt các cải cách tuần tự. Còn Phan Bội Châu trước tiên nhằm đạt tới đoàn kết dân tộc, để giành độc lập bằng bạo lc. Mỗi biện pháp điều có những ưu nhược điểm khác nhau. Có thể nói rằng biện pháp của Phan Bội Châu có nét phù hợp hơn vi bối cảnh Việt Nam lúc bấy giờ, và nó thực tế hơn. Sự thất bại của các Cụ cũng như các phong trào do Cụ khởi xướng do nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng hết là các yếu tố lịch sử và thời đại đã vượt qua tầm nhìn của ông.
Qua những vấn đề trên, có thể thấy rằng đường lối khai dân trí, chấn dân khí, đường lối chống chủ nghĩa thực dân Pháp nhằm giành lại độc lập dân chủ, lập chế độ quân chủ lập hiến hay chế độ cộng hòa dân chủ, nhằm đưa đất nước phát triển theo Tây phương, thực chất là tư tưởng tư sản chớ không phải cái gì khác. Tư tưởng dân chủ tư sản ở Tây Phương đầu thế kỷ XX đã lạc hậu rối bởi vì bây giờ Tây phương đang đứng trước ngưởng cửa của cách mạng vô sản, xã hội chủ nghĩa. Nhưng đối với phương Đông nói chung, với Việt Nam nói riêng thì tư tưởng dân chủ tư sản vẫn mang tính chất tiến bộ, còn có một ý nghĩa cách mạng, bởi vì lúc này phương Đông và Việt Nam lúc này còn phải làm cuộc cách mạng tư sản dân chủ. Điều rất đáng chú ý, Việt Nam chưa có một giai cấp tư sản bản xứ đã thành hình. Đứng ra thu nhận và truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản Tây phương không phải là những nhà tri thức tư sản Tây học mà là những nhà chí sĩ Nho giáo xuất thân từ cái học cổ truyền đồng thời tiếp nối trực tiếp một phong trào kháng Pháp cổ truyền, do đó mà dân chủ tư sản được truyền bá lúc này tuy thiếu phần sâu sắc nhưng mang nhiều sắc thái khía cạnh đặc biệt biểu hiện được tâm hồn Việt Nam, chớ không hẳn là một sự sao chép vụng về, khô héo. Có lẻ vì vậy mà “Tư tưởng tư sản không có giai cấp tư sản” trong những năm đầu thế kỷ XX có một ánh hào quang riêng của nó, và thực tế đã trở thành  một phần gia tài trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.
C.     KẾT LUẬN
Nhân dân Việt Nam có lịch sử lâu đời. Sức mạnh trong lao động sản xuất và chống ngoại xâm trước hết là do ý thức, tinh thần cộng đồng, rồi hình thành tinh thần, ý thức dân tộc. Nhận thức sâu sắc rằng cơ đồ được dựng xây là kết quả của mồ hôi, xương máu của bao thế hệ mà ngày nay mỗi người đều có nghĩa vụ và phát triển. Quyền lợi của mỗi người, gia đình, quê hương, đất nước quyện chặt vào nhau, tạo nên ý thức liên kết và hành động trong công cuộc “giữ nhà- giữ làng- giữ nước”. Đây là một cơ sở tạo nên “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”.
Có thể nói rằng sau khi phong trào Cần Vương thất bại thì phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam gặp sự bế tắc. Cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đứng đầu đã tàn rụi với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Một số thổ hào địa chủ đã nổi dậy chống thực dân Pháp. Bên cạnh đó phong trào yêu nước mang màu sắc tôn giáo xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX chứng tỏ hệ tưởng phong kiến không còn đủ khả năng tập hợp nhân dân vào công cuộc cứu nước.
Trong buổi giao thời của lịch sử Việt Nam lúc đó, những nhà yêu nước ở Việt Nam tìm cuộc sống ẩn dật không bàn đến sự đời. Trong số đó cũng có một số nhà nho yêu nước tiến bộ có tinh thần yêu nước đã tiếp thu những tiến bộ từ bên ngoài như Nhật Bản và Trung Quốc, họ vẫn một lòng sắc son ngày đêm trăn trở với sự nghiệp cứu nước, cứu dân.
Đứng trước tình hình phong trào giải phóng dân tộc đang bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Nhưng với đường lối cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can thì phong trào giải phóng dân tộc ta bước sang một giai đoạn mới dưới sự ảnh hưởng của những cải cách Duy Tân, các Ông đã tiến hành cải cách Duy Tân để canh tân đất nước trên tất cả các lĩnh vục về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…đạt được một số thành tựu đáng kể. Tuy không đạt tới mục đích cuối cùng là độc lập dân tộc nhưng cũng đã gây ra những tác động không nhỏ đến tình hình xã hội lúc bấy giờ, đã làm cho chính quyền thực dân buộc phải thay đổi một số chính sách cai trị trên đất nước ta. Chính những cơ sở và hoạt động đó đã góp phần làm cơ sở thành công cho con đường cứu nước trong giai đoạn sau- giai đoạn Hồ Chí Minh.
  
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.      Nguyễn Ngọc Cơ (Chủ biên) (2007), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918, Nxb Đại học Sư Phạm.
2.      Trần Văn Giàu (2003), Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh quyển II, Nxb KHXH Hà Nội.
3.      Lý Tùng Hiếu, Lương Văn Can và phong trào Duy tân đông du, Nxb Văn hóa Sài Gòn.
4.      Nguyễn Hữu Hiếu, Một trăm năm cuộc Minh Tân ở Nam Kỳ, Tạp chí Xưa và Nay, số 236, tháng 5/2005, tr. 28-30.
5.      Nguyễn Tiến Lực (2010), Minh trị Duy tân và Việt Nam, Nxb Giáo Duc Việt Nam
6.      Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam tập 2, Nxb Giáo Dục Việt Nam.
7.      Sơn Nam (2004), Phong trào Duy Tân ở Bắc Trung Nam, Nxb Trẻ.
8.      Nguyễn Quang Thắng (2006), Phong trào Duy Tân với các khuôn mặt tiêu biểu, Nxb Văn hóa thông tin.
9.       Vũ Quang Thành, Đông Du - Duy Tân một trăm năm nhìn lại, Tạp chí Xưa và Nay, số 214, tháng 6/2004, tr. 13-15.
10. Ủy Ban KHXH Việt Nam Viện văn học (1970), Nhà yêu nước và nhà văn Phan Bội Châu, Nxb KHXH Hà Nội.
11.  Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, Nxb Lá Bối.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét